LÒNG THAM VÀ TỘI ÁC
Quê tôi nằm trên bờ sông Tiền, thuộc về một tỉnh nằm ở đầu nguồn sông Cửu Long. Có một câu chuyện xảy ra, có lẽ đã hơn 20 năm rồi. ở bên kia bờ sông đối diện với quê tôi, thuộc về huyện Phú Tân, tỉnh An Giang.
Trên dòng sông này, vào thời điểm ấy, có nhiều người thả câu lưới ban đêm. Họ ra sông khi ánh mặt trời vừa khuất cuối trời Tây, và vào bờ sớm để bán cá phiên chợ sáng.
Một buổi sáng nọ, như thường lệ, những chiếc xuồng lớn vô bờ, và mỗi người múc cá lên từ những ngăn đục trong xuồng để chờ người nhà đến mang cá đi bán. Có khi cá được cân ngay cho bạn hàng tại chỗ, nếu họ thương lượng giá với nhau được. Vào buổi sáng hôm ấy, đã xảy ra câu chuyện đáng chúng ta suy nghĩ sau đây.
Nước chảy từ trên Campuchia xuống, nên gọi nơi dòng sông đi qua biên giới Việt-Miên là đầu nguồn, và gọi là phía trên. Cứ thế, tính từ trên chỗ xuất phát ở biên giới đó chạy dài xuống, gọi là phía dưới (dưới nguồn).
Một người đàn ông đánh cá đang loay hoay thu gom cá trên xuồng, thì thấy một vật gì to đang trôi trên sông. Trong ánh sáng lờ mờ của sao đêm, ông thấy vật trôi sáng lấp lánh, ông nhận ra đó là một chiếc nồi nhôm thật to, vì con nước đang chảy, mở chiếc xuồng bơi ra sẽ bất tiện hơn, nên ông nhảy xuống sông, lội ra vớt chiếc nồi vào.
Ông thấy chiếc nồi nặng, ông cẩn thận đem chiếc nồi lên xuồng rồi bưng vào trong. Có thể là một vụ sạt lở và tài sản của gia đình bất hạnh nào đó đã bị dòng nước cuốn đi! Đây có thể là một phần gia tài nhỏ bé còn sót lại. Người đánh cá nghĩ thế.
Chiếc nồi không có nắp. Ông cầm đèn Pin rọi vào, thật bất ngờ và bàng hoàng, một em bé nằm ép gọn trong nồi. Đôi tay đôi chân nó rung lên, quơ qua quơ lại, miệng nó mở ra, mắt nó nheo lại, những động tác cho biết rằng nó đang khóc, nhưng nó không thể nào bật ra tiếng khóc được, nó khóc hết nổi! Nó không còn đủ sức để khóc!
Người đàn ông cúi xuống, nhặt lên từ trong chiếc nồi một mảnh giấy, trong đó có ghi mấy dòng chữ: “Vì hoàn cảnh, tôi không thể nuôi em bé này. Ai vớt được em bé này, xin làm ơn nuôi dưỡng nó. Tôi rất đau khổ, không biết tôi còn sống được bao lâu. Tôi xin cám ơn”.
Người đàn ông lại cúi nhìn vào chiếc nồi, ông lấy ra một gói nhỏ, trong đó có vài chục ngàn đồng. Ông cẩn thận cất vào một nơi. Ông lục lọi bươi tìm trong nồi, có vài hộp sữa bò nhét xen trong vài bộ quần áo của em bé. Ông lấy mấy hộp sữa. Ông bước ra ngoài mũi xuồng. Có vẻ như tìm kiếm ai giúp đỡ em bé chăng? Lúc này còn sớm quá. Chưa một ai đến. Vắng lặng. Ông nhìn quanh, nhìn trước nhìn sau, rồi bưng chiếc nồi ra phía mui xuồng. Em bé nằm trong nồi, ngo ngoe, không cất lên nổi tiếng khóc.
Ông bưng chiếc nồi lên, đứng thẳng, và dùng hết sức mình hất em bé xuống sông. Xung quanh vắng lặng. Ông cầm chiếc nồi trống rỗng đem cất vào bên trong xuồng.
Trong khi ấy, ở phía dưới dòng nước, cách đó chừng vài chục thước, một người đàn ông thả lưới cũng đang neo xuồng cặp bờ sông, và cũng đang chuẩn bị thu gom cá lại để chờ người nhà đến mang đi bán phiên chợ sáng. Trên mặt sông bàng bạc ánh sáng những vì sao, nên anh cũng thấy rõ một vật gì sang sáng đang trôi ở xa xa. Anh cũng thấy có một người từ trong bờ lội ra vớt lấy. Anh không quan tâm lắm đến chuyện đó. Ở vùng sông nước này, những đồ vật trôi sông là sự thường.
Trời vắng lặng. Bất chợt anh nghe tiếng “đùng” khá lớn của vật gì rơi xuống sông. Trong phản xạ tự nhiên, anh nhìn về phía chiếc xuồng trên nước. Dòng nước chảy mạnh, vật vừa bị ném xuống sông mau chóng bị nước cuốn trôi đến gần bên chiếc xuồng anh. Trong bộ quần áo trắng và chiếc khăn quấn quanh mình phồng lên như chiếc phao, anh thoáng thấy em bé giẫy giụa chìm nổi trên mặt nước. Anh lao mình xuống, vớt em bé lên. Anh cắt dây và vội vã bơi xuồng vào bờ. Anh ôm em bé chạy đến xóm nhà gần đó và tìm người cứu giúp.
Ánh lửa bập bùng sưởi ấm em bé. Các bà trong xóm xúm lại chăm sóc nó. May mắn, em bé được cứu sống. Sau đó vợ anh đem em bé về nhà. Một phụ nữ trẻ trong xóm đang có con nhỏ đã nhận chăm sóc em bé những ngày sau đó.
Câu chuyện của em bé được vớt từ dưới sông lên rồi cũng tới tai Công An. Người cứu em bé không muốn gây thù oán, tuy dù kể lại đúng sự thật, anh luôn bảo rằng không biết người chủ chiếc xuồng đánh cá kia là ai. Nhưng rồi người ta cũng điều tra ra thủ phạm. Người đàn ông hất em bé xuống sông đã vào tù. Những tình tiết liên quan đến ông trong câu chuyện này do chính ông làm bản tự khai trước khi dựng lại hiện trường nơi ông gây ra tội ác.
CHIA SẺ MỘT CHÚT SUY TƯ
TÔN THỜ TIỀN CỦA
“Túi tham không đáy”. Tục ngữ Việt Nam đã nói thế! Khi người ta đã mang cái túi tham không đáy rồi, thì cái gì cũng muốn thồn vào, tom góp vào, giống như mấy “con quỷ râu xanh” già không bỏ nhỏ không tha. Cái gì cũng muốn sở hữu, cái gì cũng muốn chiếm đoạt, bất kể hậu quả ra sao, gieo đau khổ cho người khác đến cỡ nào. Người có lòng tham, không thể theo đuổi chữ “Tín” được. Lòng tham đẻ sinh ra trộm cắp, tham nhũng, hối lộ, dối trá, hàng giả, lừa bịp, rồi dần dà đi đến tội ác cướp của, giết người, chỉ vì một thứ lợi lộc nhỏ bé, tầm thường! Đi xa hơn nữa, họ không kể gì đến tình nghĩa anh em, bằng hữu, xóm giềng, thậm chí còn hãm hại cả cha mẹ để đoạt lấy gia tài của cải.
Có đáng gì một cái nồi, vài chục ngàn, vài hộp sữa, mà người đàn ông ấy đành lòng hất đứa bé xuống sông? Đành tâm muốn giết đứa bé?
TỪ LÒNG THAM VÀ DỤC VỌNG…
Với lòng “ích kỷ”, người ta có thể chém nhau dù chỉ vì một miếng ăn nhỏ bé. Các bạn chắc còn nhớ câu nói này: “Người ích kỷ sẵn sàng đốt nhà bạn chỉ để luột một quả trứng”.
Trong Mười Điều Răn Đức Chúa Trời, Điều răn thứ 7 dạy: “Chớ lấy của người”. Điều thứ 10 dạy: “Chớ tham của người”. Thoạt nghe qua, chúng ta thấy hai điều ấy tương tự nhau. Việc “lấy của người” thì đúng là vì có lòng “tham của người” mới lấy. Nhưng điều răn “chớ lấy của người” giúp ta luôn nhớ “phấn đấu giữ lòng trong sạch”. Cuộc sống có biết bao nghịch cảnh khó xử, biết bao hoàn cảnh khó vượt qua, con người cần ý chí và nghị lực, để giữ lòng trong sạch. Ông bà xưa khuyên con cháu qua câu ca dao sau đây: “Trong đầm gì đẹp bằng Sen. Lá xanh bông trắng lại chen nhụy vàng. Nhụy vàng bông trắng lá xanh. Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn”.
Khi còn nhỏ, có lần nghe chương trình “Tiếng nói học đường” trên đài phát thanh Sài Gòn, tôi nghe được câu chuyện sau đây:
Có một bác chạy xe xích-lô đưa một người phụ nữ quý phái về nhà. Khi cánh cổng khép lại, trời cũng đã chiều tối. bác chạy xe về. Khi bước xuống xe, bác chợt nhận ra cái ví của khách rơi ở trên xe. Bác cố nhớ lại địa chỉ của người phụ nữ xa lạ ấy. Bác cố hình dung con đường bác đã chạy qua. Lúc ấy trời đã tối. Bác vội vã quay xe đi giữa sự ngạc nhiên của vợ và các con vừa mới chạy ra mừng bác về. Rồi bác cũng lần mò tìm ra được cổng nhà của người khách lạ. Nghe tiếng chuông reo, người phụ nữ bước ra mở cửa. Bà vui mừng và không khỏi kinh ngạc về một bác xích-lô nghèo khổ mà lòng trong sạch như thế. Trong chiếc ví có nhiều giấy tờ quan trọng và những tờ giấy bạc lớn. Một cuốc xe lúc đó tùy đoạn đường dài ngắn, chỉ khoảng vài chục đồng. Người phụ nữ sang trọng rút ra từ chính trong chiếc ví đó 4 tờ giấy bạc 500 đồng, tươi cười nói: “Thật may mắn tôi gặp một người tử tế như ông. Tôi đang rất lo lắng khi nhận ra mình đã đánh mất chiếc ví. Xin ông vui lòng nhận chút tấm lòng biết ơn của tôi”. Bác xích-lô cũng tươi cười đáp: “Xin cám ơn bà, tôi không dám nhận, đó chỉ là bổn phận của tôi”. Rồi bác xích-lô đạp xe đi.
Có thể bác xích-lô rất vui khi nhận được số tiền hậu tạ lớn như thế, nhưng có thể niềm vui của một tâm hồn trong sạch, cao cả, biết thi ân, biết làm điều thiện, biết tự trọng, còn lớn lao hơn nhiều. Bác hạnh phúc với việc làm của bác. Lòng bác đạt được thanh thản an vui.
ĐI ĐẾN TỘI ÁC
Còn Điều răn thứ 10 “Chớ tham của người” nhấn mạnh về “dục vọng” của con người. Có những con người đã quá đầy đủ vẫn muốn chiếm đoạt của người khác. Chiếm đoạt để thỏa mãn khát vọng thấp hèn, hoặc lấp đầy tham vọng kiêu căng.
Lịch sử cho thấy từ thời phong kiến có những ông vua tàn bạo, coi lê dân như rơm rác, giàu có tột cùng mà vẫn chiếm đoạt tài sản của dân lành. Thí dụ trong Kinh Thánh có vua A-kháp chiếm vườn nho của Na-vót (1V.21,1-27). Có những Vua đã có hàng trăm hàng ngàn cung phi mỹ nữ và vẫn chiếm đoạt vợ người. Thí dụ vua Đa-vít tìm cách giết chết U-ri-a để chiếm vợ của ông là bà Bét-sa-bê. (2Sm11). Và, những nhà độc tài hiện đại như Hitler, Mussolini… Hay những chế độ độc tài nhiều nơi trên thế giới, luôn cùng có một điểm chung là đàn áp và giết chóc, thanh trừng và thủ tiêu, vơ vét và chiếm đoạt của nhân dân, của cải vật chất và những quyền căn bản đem lại hạnh phúc của con người.
Bạn đọc thân mến.
Câu chuyện trên cho chúng ta thấy lòng tham của một con người đến táng tận lương tâm như thế, liệu ông ta sẽ đối xử thế nào với láng giềng, chòm xóm? Một con người coi trọng của cải vật chất đến như thế sẽ ứng xử thế nào đối với cha mẹ, anh em, vợ con, thân tộc họ hàng?
Nên, nếu con người chỉ nhắm tới giá trị vật chất: một chế độ chỉ quan tâm đến phát triển văn minh vật chất, suy thoái và mất dần giá trị tinh thần, thì dân tộc sẽ đi về đâu? Nếu nhân loại không còn ai tìm về giá trị tâm linh, thì văn minh nhân loại chỉ là thứ văn minh của sự chết!
Khi con người tôn thờ tiền của, chạy theo lợi lộc, ngôn ngữ con người thật nông cạn và phạm thượng. Người ta “tục hóa” tất cả! Chúng ta có thể nghe thấy trên những mẫu quảng cáo câu “khách hàng là Thượng Đế!”
Tiền bạc, của cải vật chất, luôn là mối nguy hiểm đáng sợ trong cuộc sống chúng ta, nhất là trong cuộc hành trình Đức Tin của người Công Giáo. Nên, tôn thờ tiền bạc, của cải vật chất, là tôn thờ ma quỷ, tôn thờ thần chết vậy!
“Không một gia nhân nào có thể làm tôi hai chủ, vì sẽ ghét chủ này mà yêu chủ kia, hoặc sẽ gắn bó với chủ này mà khinh dể chủ nọ. Anh em không thể vừa làm tôi Thiên Chúa, vừa làm tôi tiền của được” (Lc.16,13).
Lm. Antôn NGUYỄN VĂN TIẾNG
Trở về Mục Lục Chia Sẻ Chút Suy Tư
|