SUY NIỆM TIN MỪNG
CHÚA NHẬT II PHỤC SINH A
(Ga.20,19-31)
*****
TỪ NHẬN THỨC ĐẾN TRUYỀN GIÁO

I. VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI
1. Từ Chúa Nhật
Phần đầu của Phúc Âm Chúa Nhật này – năm nào ta cũng đọc lại – đưa ta đến “Sau cái chết của Chúa Giêsu” vào buổi chiều “ngày thứ nhất trong tuần”. Ngày qui tụ phụng vụ của các Kitô hữu, thời gian thuận tiện để Chúa hiện diện giữa cộng đoàn mà Người qui tụ để chia sẻ Lời và Bánh, và để sai họ đi vào thế giới.
Trong trình thuật, ta gặp lại 3 thời gian đặc biệt của tiến trình Phục Sinh:
- Sáng kiến của Đấng Phục Sinh “đến” thăm.
- Nhận biết Đức Giêsu đang sống thắng vượt cái chết.
- Sứ mệnh từ Đấng Phục Sinh.
Các môn đệ hội họp ở một nơi mà các cửa “đều đóng kín…vì họ sợ người Do Thái”, tức là chính quyền tôn giáo ở Giê-ru-sa-lem. Có lẽ qua việc xác định rõ ràng này, tác giả muốn nói đến cảnh bắt bớ mà những người nghe Phúc Âm phải chịu: bị loại ra khỏi hội Đường vì họ nhận Đức Giêsu là Kitô. Dần dà, họ tìm những địa điểm hợp riêng, tránh ánh mắt của những kẻ bắt bớ.
Trong lúc họ họp nhau, Đức Giêsu tới với họ “Đức Giêsu đến và ở giữa họ”. Lời đầu tiên của Người là lời chúc bình an “Bình an cho các con” (Shalom). Ơn cứu độ không chỉ là một lời chúc lịch sự, nhưng là ơn cứu độ có hiệu quả, của niềm vui, và niềm bình an.
+ Nhận Đức Giêsu sống vượt qua cái chết
Đức Giêsu cho họ xem: “tay và cạnh sườn Người” (đối chiếu với ngọn giáo Gioan). Marchadour bình luận: “Dấu vết của việc đóng đinh trên tay và cạnh sườn Đức Giêsu chứng tỏ rằng, dù những sự kiện lạ lùng trong các cuộc tỏ mình ra của Đức Giêsu, tác giả Phúc Âm không muốn các độc giả lầm Chúa với một bóng ma, nghĩa là một người khác với Đấng chịu đóng đinh. Chắc chắn, sự hiện diện thể lý bình thường của Đức Giêsu không còn nữa, nhưng Đấng ngự giữa họ vẫn là Chúa Giêsu , nghĩa là cũng là Đấng mà họ đã biết qua cuộc Phục Sinh . Sợ hãi tiêu tan, các môn đệ tràn đầy niềm vui”.
+ Sứ mệnh nhận từ Đấng Phục Sinh.
Sự hiện ra của Đấng Phục Sinh không có một mục đích tự thân. Nó khai mở ra một sứ mệnh: sai đi với sức mạnh của Thánh Linh, đem cho mọi người Tin mừng về ơn tha thứ của Thiên Chúa. “Như Chúa Cha đã sai Thầy thế nào, Thầy cũng sai các con như vậy”. Nói thế rồi Người thổi hơi trên các ông và nói: “Các con hãy nhận lấy thánh thần, các con tha tội cho ai thì người ấy được tha…”
A. Marchadour bình luận: Đó không phải là một so sánh, đó chính là một nền tảng, một cội rễ. Các môn đệ được sai đi (nguyên ngữ là: trở thành Tông đồ) để nối dài hoạt động của Đức Giêsu …Như Thiên Chúa đả thổi hơi (cùng một động từ như St 2,7) sức mạnh của Thánh Thần trên các tông đồ…Như Thiên Chúa rồi như Giêsu kẻ được Thiên Chúa sai đi, các môn đệ tha thứ tội lỗi, nghĩa là thanh tẩy tội lỗi trong sức mạnh của sự chết của Đức Giêsu.
2. Tới Chúa Nhật
Sự vắng mặt của Tôma vào ngày thứ nhất trong tuần cho phép tác giả Phúc Âm dẫn nhập vào màn kế tiếp, “tám ngày sau”. Típ người tiêu biểu cho sự cưng lòng, ông từ chối tiếp mình vào hàng ngũ chứng nhân của các tông đồ khác và ông nghi ngờ Đức Giêsu Phục Sinh: ông đòi “thấy”và “sờ” rồi mới “tin”.
Thế là Đức Giêsu đến một lần nữa, ngôn ngữ dùng miêu tả cũng như lần hiện ra trước. Đức Giêsu lại hiện diện, dù các cửa đều “Khóa chặt”. Lại một lần nữa, Người gửi lời chào Phục Sinh: “Bình an cho các con”. Một lần nữa, Người cho các ông xem tay và cạnh sườn Người. Hơn nữa, Người nói với Tôma, nhấn mạnh đến tính cách liên tục và tính cách mạch lạc giữa tình trạng bị đóng đinh và tình trạng vinh hiển hiện tại: “Hãy xỏ ngón tay vào đây, hãy xem tay Thầy, hãy thọc bàn tay vào cạnh sườn Thầy” . Gérard Bessière thắc mắc: “Người tông đồ cứng lòng tin ấy có làm như thế không? Từ lâu người ta đã tranh cãi về phía những vết thương. Điều quan trọng ấy là lời nói thốt ra: “Đừng cứng lòng nữa, nhưng hãy tin”.
Và đây, tìm lại được đức tin, Tôma kẻ cứng lòng đã tặng Đức Giêsu danh hiệu lớn lao nhất của cả Phúc Âm: “Lạy Chúa là Thiên Chúa tôi”. Một đỉnh cao mà các định nghĩa tín lý sau này không vượt qua nổi. Giữa “Ngôi Lời là Thiên Chúa ” ở khởi đầu (1,1) và lời tuyên xưng “Đức Giêsu là Chúa và là Thiên Chúa”, không còn gì nói thêm nữa. Càng rõ ràng hơn nữa khi kẻ làm chứng về chân lý này lại là kẻ không muốn tin vào lời chứng của các tông đồ.
3. Cho tới Chúa Nhật hôm nay.
Màn kịch kết thúc bằng một mối phúc hứa ban cho những ai sống trong thời đại vắng bóng sự hiện diện thể lý của Đức Giêsu, là chính chúng ta: “Phúc cho những ai không thấy mà tin”. Mối phúc cuối cùng của Phúc Âm, mối phúc của những kẻ tin. A. Marchadour nói tiếp: Đó là câu kết luận của cả cuốn Phúc Âm và nhắc lại một chủ đề lớn trong Do Thái giáo: Giữa điều thấy và điều tin, cảnh tượng và lắng nghe, sự trình bày và lời lẽ, chính từ thứ 2 tạo nên điều kiện bình thường và lý tưởng của tín hữu. Ngay cả những kẻ đã thấy cũng phải tin vượt quá điều họ thấy. Ngôi Lời, ngay từ phút giây trở thành “nhục thể” đã chỉ cho các môn đệ thấy “nhục thể”, nghĩa là nhân tính nơi lẽ ra ta phải “thấy Thiên Chúa tỏ mình ra trong vinh quang”. Chúng ta thật phúc đức, những người tiếp nhận Phúc Âm. Chúng ta không thấy, nếu, do lời chứng của các tông đồ mà ta gắn bó với Đức Kitô và trở thành tín hữu.
II. BÀI ĐỌC THÊM
1. Sai đi như Chúa Cha đã sai (I. Potin, Jésus, I’histoire vrare)
Phòng đón kín, Đức Giêsu đột ngột hiện ra giữa các môn đệ, ba lời vắn vỏi: Bình an, Thánh Thần, tha tội.
Ở đây, các môn đệ sợ người Do Thái chứ không sợ ma. Trái lại, họ tràn đầy niềm vui. Sao họ có thể dè dặt về căn tính của Đấng hiện ra, vì Người đã cho họ xem tay và cạnh sườn Người? Đức tin vào sự phục sinh phát sinh từ khám phá này, cũng với niềm bình an và niềm vui được gặp lại Người, 2 món quà của thời đại Messia mà Người đã hứa cho họ.Theo Gioan và Luca, sự hiện diện của Người không có mục đích đưa họ trở lại quá khứ nhung nhớ. Đức Giêsu “sai” họ như Cha Người đã sai Người. Họ trở nên “tông đồ” của Người. Để tấn phong, Người thổi hơi, nghĩa là ban Thánh Thần của Người cho họ theo 2 nghĩa của từ ngữ bằng tiếng Do Thái và Hy Lạp. Theo Gioan, thổi hơi liên hệ đến việc ban phát hào phóng Thánh Thần mà Luca đặt vào thời điểm 50 ngày sau, trong lễ Hiện Xuống. Ân ban Thánh Thần cho phép họ tha thứ tội lỗi mà theo Gioan, chủ yếu là tội từ chối tin Đức Giêsu là Con Chúa Cha. Ai tuyên xưng Người sẽ được tha tội, vượt qua cái chết đến sự sống. Sứ mạng của các tông đồ là loan báo tha tội này nhân danh Đức Giêsu.
2. Chiêm ngắm Đức Giêsu trong “tấm gương” đức tin của những kẻ đã thấy Người (Mgr. L. Daloz, Nous avons vu sa gloire).
Đức Giêsu tuyên bố từ nay sẽ là chế độ đức tin. Người đã tỏ mình ra trong vinh quang Phục Sinh cho các tông đồ và các môn đệ. Họ sẽ là những chứng nhân ưu tuyển đã thấy trước điều mai sau sẽ tỏ ra cho mọi người: Khi chúng ta thấy Người diện đối diện, ta sẽ nhận ra Đấng đã cho ta xỏ ngón tay vào vết thương trên bàn tay và ở cạnh sườn người. Trong khi chờ đợi ngày mạc khải chung cuộc ta tìm thấy sự bảo đảm và niềm vui của đức tin trong chứng từ của các môn đệ đầu tiên. Phúc cho những ai không thấy mà tin. Ta tin khi chiêm ngắm Đức Giêsu trong tấm gương đức tin của những chứng nhân đã thấy Chúa, cho dù đối với ta sự Phục Sinh vẫn là một điều khó hiểu. Nếu ta tiếp nhận phép lạ Phục Sinh trong sự vững vàng tăm tối của đức tin, một ngày kia Đấng Phục Sinh sẽ tỏ mình cho ta, và ta sẽ phải kêu lên như Tôma: “Lạy Chúa, lạy Thiên Chúa của con”.
FICHES DOMINICALES
(Fiches dominicales, Bulletin de liaison et d’animation
des équipes liturgiques du diocèse Saint-Brieue et Tréguier).
Trở về trang mục lục Suy Niệm
|