Tin Mừng Chúa Nhật Phục Sinh II năm C
KHỦNG HOẢNG ĐỨC TIN
(Ga. 20,19-31)
Tông đồ Tô-ma đã trải qua một cơn khủng hoảng đức tin. Nhiều người cũng đang khủng hoảng đức tin. TOLSTOY là một con người mẫu mực, ngoại trừ cuộc sống của ông cũng đang bị một cơn khủng hoảng về mặt ý nghĩa.
Năm 1879, ông được 51 tuổi. Ông có lý do để mãn nguyện với chính mình. Ông đã hoàn thành hai cuốn tiểu thuyết “Chiến tranh và hòa bình” và “Anna Karenina”. Nếu ông không viết một tác phẩm nào khác nữa, thì hai cuốn tiểu thuyết này đủ đảm bảo cho ông có một vị trí xứng đáng trong cuốn sử biên niên của nền văn học thế giới. Văn phong của hai cuốn sách này đã giúp cho ông có thể diễn tả được tính cách vĩ đại và khả năng sáng tạo của ông. Đáng lẽ ông rất hạnh phúc. Tuy nhiên, ông lại cảm thấy đau khổ. Ông cảm thấy cuộc sống của mình không có ý nghĩa. Có một câu hỏi cứ lảng vảng trong ông: “Liệu có bất cứ ý nghĩa nào trong cuộc sống của tôi sẽ không bị cái chết hủy hoại đi chăng ?”
Đối với ông, đây là một thời kỳ nguy hiểm và đau đớn – ông đã từng dự tính tự tử. Ông tìm kiếm một lời giải đáp cho những câu hỏi của ông trong từng lãnh vực của kiến thức nhân loại. Ông cứ kiên nhẫn tìm kiếm, cả ngày lẫn đêm, giống như một người đang giãy chết tìm cách được cứu thoát. Nhưng ông vẫn không hề tìm thấy gì cả.
Thế rồi ông quay trở lại với niềm tin của các Kitô hữu. Ông đã từng nuôi dưỡng trong lòng tin, nhưng ông đã từ bỏ đức tin đó từ lâu rồi. Ông cảm thấy khó chịu đối với niềm tin này, và coi đó như là thứ vô nghĩa lý trên môi miệng của những kẻ có cuộc sống trái ngược hẳn với cuộc sống của ông. Nhưng khi nhìn vào những con người sống bằng niềm tin, thì cũng chính niềm tin này lại lôi cuốn ông và dường như gây cho ông sự xúc động.
Từ đó, ông được lôi kéo quay trở lại với niềm tin này và ông đã nhận ra được ý nghĩa của niềm tin. Ông nói: “Tôi đã từng suy nghĩ rằng trong cuộc sống, không hề có chân lý chắc chắn. Nhưng rồi tôi đã tìm thấy một nguồn ánh sáng chắc chắn. Tôi tìm thấy nguồn ánh sáng đó từ Tin Mừng, và nét rạng ngời của nguồn ánh sáng đó đã làm ngây ngất cõi lòng tôi. Trong những lời giảng dạy của Đức Giêsu, tôi nhận ra rằng đó là một học thuyết tinh tuyền nhất và đầy đủ nhất trong cuộc đời. Từ 2000 năm nay, lời rao giảng cao cả và quý giá của Đức Giêsu đã tạo ra một ảnh hưởng trên con người, theo cách thức mà không có bất cứ người nào khác có thể tạo ra được. Một ánh sáng đã chiếu tỏa trên con người tôi và chung quanh tôi, và kể từ đó, ánh sáng này không bỏ rơi tôi nữa”.
Một số người đã được đưa ra vào lòng tin tôn giáo ngay từ lúc mới sinh, và theo năm tháng, họ nhận thấy lòng tin này càng ngày càng mạnh mẽ và vẫn được duy trì. Khi có được một lòng tin như vậy, thì đó là một ơn phúc lớn lao. Nhưng đối với những người khác, lòng tin là một cuộc đấu tranh liên lỉ. Thật vậy, có thể có một số người đã trải qua một cơn khủng hoảng, rồi mới đến được lòng tin sâu xa và mang tính cách cá nhân.
Chỉ có lòng tin mới có thể trả lời cho những câu hỏi sâu xa nhất và quan trọng nhất trong cuộc đời. Nhưng chúng ta không được mong đợi lòng tin soi sáng tất cả mọi sự, bởi vì chúng ta có lòng tin, điều đó không có nghĩa là chúng ta biết được tất cả mọi câu trả lời. Nhưng chúng ta không nhất thiết biết tất cả những câu trả lời. Lòng tin là sự tin tưởng, chứ không phải là biết chắc chắn.
Câu chuyện của Tô-ma đa nghi giúp chúng ta hiểu rằng ân sủng lòng tin được chứa đựng trong bình chứa là con người nhân loại thật mỏng dòn biết bao. Và điều này cũng chỉ ra cho chúng ta rằng lòng tin Kitô giáo nhất thiết phải là lòng tin đối với một Đấng đã yêu thương chúng ta – và Người đã có những vết thương để chứng tỏ tình yêu này. Tất cả những cốt lõi của lòng tin trong Kinh Thánh không chỉ là lòng tin mà chúng ta có được nơi Thiên Chúa, nhưng còn là lòng tin mà Thiên Chúa có nơi chúng ta.
Flor McCarthy
Trở về trang mục lục Suy Niệm
|