SUY NIỆM TIN MỪNG
LỄ CHÚA THÁNH THẦN HIỆN XUỐNG
(Ga.20,19-23)
*****
NGÀY ĐẦU TIÊN CỦA TẠO THÀNH MỚI
I. VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI: (trích tập Chúa nhật II Phục sinh năm A)
1. Từ Chúa nhật.
Phần đầu của Phúc âm Chúa nhật này - năm nào ta cũng đọc lại - đưa ta đến "Sau cái chết của Đức Giêsu" buổi chiều "ngày thứ nhất trong tuần, ngày qui tụ phụng vụ của các Kitô hữu, thời gian thuận tiện để Chúa hiện diện giữa cộng đoàn mà Người qui tụ để chia sẻ Lời và Bánh, và để sai họ đi vào thế giới.
Trong trình thuật, ta gặp lại 3 thời gian đặc biệt của tiến trình phục sinh.
1. Sáng kiến của Đấng Phục Sinh "đến" thăm.
2. Nhận biết Đức Giêsu đang sống thắng vượt cái chết.
3. Sứ mệnh nhận từ Đấng Phục Sinh.
Các môn đệ hội họp ở một nơi mà các cửa “đều đóng kín… vì họ sợ người Do Thái”, tức là chức quyền tôn giáo ở Giêrusalem. Có lẽ qua việc xác định rõ ràng này, tác giả muốn nói tới cảnh bắt bớ mà những người nghe Phúc âm phải chịu: bị loại ra khỏi Hội Đường vì họ nhận Đức Giêsu là Kitô. Dần dà, họ tìm những địa điểm họp riêng, tránh ánh mắt của những kẻ bắt bớ.
Trong lúc họ họp nhau, Đức Giêsu tới với họ "Đức Giêsu đến và ở giữa họ”. Lời đầu tiên của Người là lời chúc bình an. "bình an cho các con" (Shalom). Ơn cứu độ không chỉ là một lời chúc lịch sự, nhưng là ơn cứu độ có hiệu quả, của niềm vui, và niềm bình an.
- Nhận Đức Giêsu sống vượt qua cái chết.
Đức Giêsu cho họ xem: "Tay và cạnh sườn Người” (đối chiếu với ngọn giáo của Gioan). Marchadour bình luận: Dấu vết của việc đóng đinh trên tay và cạnh sườn Đức Giêsu chứng tỏ rằng, dù những điều kiện lạ lùng trong các cuộc tỏ mình ra của Đức Giêsu, tác giả Phúc âm không muốn các độc giả lầm Chúa với một bóng ma, nghĩa là một người khác với Đấng chịu đóng đinh. Chắc chắn, sự hiện diện thể lý bình thường của Đức Giêsu không còn nữa, nhưng Đấng ngự giữa họ vẫn là Chúa Giêsu, nghĩa là cũng vẫn là Đấng mà họ đã biết và đã yêu, nhưng từ nay đã biến hình đổi dạng qua cuộc phục sinh. Sợ hãi tiêu tan, các môn đệ tràn đầy niềm vui.
- Sứ mệnh nhận từ Đấng phục sinh.
Sự hiện ra của Đấng phục sinh không có một mục đích tự thân. Nó khai mở ra một sứ mệnh: sai đi, với sức mạnh của Thánh Linh, đem cho mọi người Tin Mừng về ơn tha thứ của Thiên Chúa. "Như Cha đã sai Thầy thế nào, Thầy cũng sai các con như vậy". Nói thế rồi Người rồi thổi hơi trên các ông và nói: "Các con hãy nhận lấy Thánh Thần, các con tha tội cho ai thì người ấy được tha…”
A.Marchadour bình luận: Đó không phải chỉ là một so sánh, đó chính là một nền tảng, một cội rễ. Các môn đệ được sai đi (nguyên ngữ là: trở thành tông đồ) để nối dài hoạt động của Đức Giêsu... Như Thiên Chúa đã thổi hơi thần khí của Người vào Ađam (St 2,7), như Thánh Thần xuống trên Đức Giêsu (1,33-34), Đức Giêsu mà Thiên Chúa đã tôn phong làm Đức Chúa, cũng thổi hơi cùng một động từ như ở (St 2,7) sức mạnh của Thánh Thần trên các tông đồ... Như Thiên Chúa, rồi như Đức Giêsu kẻ được Thiên Chúa sai đi, các môn đệ tha thứ tội lỗi nghĩa là thanh tẩy tội lỗi trong sức mạnh của sự chết của Đức Giêsu.
2. Tới Chúa nhật.
Sự vắng mặt của Tôma vào ngày thứ nhất trong tuần cho phép tác giả Phúc âm dẫn nhập vào màn kế tiếp, “tám ngày sau”. Típ người tiêu biểu cho sự cứng lòng, ông từ chối xếp mình vào hàng ngũ chứng nhân của các tông đồ khác và ông nghi ngờ Đức Giêsu phục sinh: ông đòi "thấy" và "sờ" rồi mới "tin".
Thế là Đức Giêsu đến một lần nữa, ngôn ngữ dùng miêu tả cũng như lần hiện ra trước. Đức Giêsu lại hiện diện, dù các cửa đều "khoá chặt". Lại một lần nữa, Người gởi lời chào phục sinh: "Bình an cho các con". Một lần nữa, Người cho các ông xem tay và cạnh sườn Người. Hơn nữa, Người nói với Tôma, nhấn mạnh đến tính cách liên tục và tính cách mạch lạc giữa tình trạng bị đóng đinh và tình trạng vinh hiển hiện tại: "Hãy xỏ ngón tay con vào đây, hãy xem tay Thầy, hãy thọc bàn tay vào cạnh sườn Thầy. Gérard Bessière thắc mắc: "Người tông đồ cứng lòng tin ấy có làm như thế không. Từ lâu người ta đầy tranh cãi về điều ấy. Những bức hoạ thường chỉ vẽ Tôma đang giơ tay về phía những vết thương. Điều quan trọng ấy là lời nói thốt ra: "Đừng cứng lòng nữa, nhưng hãy tin.
Và đây tìm lại được đức tin, Tôma kẻ cứng lòng đã tặng Đức Giêsu danh hiệu lớn lao nhất của cả Phúc âm: “Lạy Chúa là Thiên Chúa tôi". "Một đỉnh cao mà các định nghĩa tín lý sau này không vượt qua nổi. Giữa "Ngôi Lời là Thiên Chúa" ở khởi đầu (1,1) và lời tuyên xưng Đức Giêsu là Chúa và là Thiên Chúa", không còn gì để nói thêm nữa. Càng rõ ràng hơn nữa khi kẻ làm chứng về chân lý này lại là kẻ không muốn tin vào lời chứng của các tông đồ.
3. Cho tới Chúa nhật hôm nay
Màn kịch kết thúc bằng một mối phúc hứa ban cho những ai sống trong thời đại vắng bóng sự hiện diện thể lý của đức Giêsu, là chính chúng ta: "Phúc cho những ai không thấy mà tin. Mối phúc cuối cùng của eáe Phúc âm, mối phúc của những kẻ tin. A. Marchadour nói tiếp: Đó là câu kết luận của cả cuốn Phúc âm và nhấc lại một chủ đề lớn trong Do Thái giáo: Giữa điều thấy và điều tin, cảnh tượng và lắng nghe, sự trình bày và lời lẽ, chính từ thứ 2 tạo nên điều kiện bình thường và lý tưởng của tín hữu. Ngay cả những kẻ đã thấy cũng phải tin vượt quá điều họ thấy. Ngôi Lời, ngay từ phút giây trở thành "nhục thể" đã chỉ cho các môn đệ thấy "nhục thể" nghĩa là nhân tính nơi lẽ ra ta phải "thấy Thiên Chúa tỏ mình ra trong vinh quang". Chúng ta thật phúc đức những người tiếp nhận Phúc âm. Chúng ta không thấy, nếu, do lời chứng của các tông đồ mà ta gắn bó với Đức Kitô và trở thành tín hữu.
II. BÀI ĐỌC THÊM:
1. “Thánh Thần sáng tạo, mọi sự khởi đầu là do Ngài” (F. Deleclos trong “Prends et manges la Parole” Cent. Du Duculot 1992, p.38- 40).
Sự ra đời của Giáo Hội được trình bày hai cách: một của Luca và một của Gioan.
Một bên là bảo táp bên kia là trầm tư (recueillement) nhưng biến cố chỉ là một và sứ điệp cũng không khác nhau. Giáo Hội, tuy có các thành phần khác nhau, được rửa tội trong cùng một Thánh Thần duy nhất để làm thành một thân thể. Trung tâm của biến cố là Thánh Thần. Một vai trò rộng lớn nhưng vô hình. Thánh Thần không có mặt nạ cũng không có khuông mặt, nhưng Ngài ở khắp nơi. Những danh xứng về Ngài làm thành một kinh cầu dài đáng ngạc nhiên, và mỗi danh xưng làm gợi lên một trong những khía cạnh khác nhau do tác động của Ngài. Thánh Thần là lửa đốt cháy, than hồng ủ dưới tro. Ngài sôi lên như nước giòng thác. Ngài cũng là nguồn suối bình an. Người ta tìm thấy Ngài trong sấm sét, nhưng nhiều khi tiếng rỉ tai của Ngài trong một hơi thở nhẹ. Ngài là bão tố nổi giận phá tan tất cả trên đường đi, Ngài là gió thoảng dịu dàng, luồng gió êm dịu.
Nhưng nếu mắt chúng ta không thấy được Ngài thì làm sao nhận ra sự hiện diện của Ngài? Bởi những việc làm mà Ngài linh ứng và hoa trái Ngài mang tới, người ta có thể đoán nhận không sợ sai lầm.
Thánh Thần là Đấng sáng tạo: mọi sự khởi đầu là do Ngài, mọi sự mới mẻ cũng là do Ngài. Ngài là sự linh hoạt của chính Thiên Chúa, Ngài làm phát sinh và tái sinh Giáo Hội. Ngài thổi hơi sự sống và đổi mới mặt đất.
Khi virus của Babel phá tan sự hài hòa và làm phát sinh ra chống đối giữa các khác biệt, Thánh Thần đem lại sự duy nhất trong sự khác biệt, thúc giục sự hiệp thông trong sự bất đồng. Khi các rào cản dựng lên, Thánh Thần phá đổ. Có biên giới không? Ngài không biết? Bị các thói quen đe dọa chăng? Ngài rung chúng như rung một cây mận. Ngài thích quấy rầy những gì đã được xếp đặt vững bền và Ngài đã phóng đi những gì đã dừng lại.
Các minh họa không thiếu. Phải xem lại cuốn phim ngày lễ Ngũ Tuần. Đàn ông và đàn bà là chiến sĩ và là rường cột của Giáo Hội, đóng kín, ẩn náu dưới cánh cửa khóa chặt và tê bại bởi sợ hãi. Và đây Thánh Thần sai họ đi mang sứ điệp tha tội, tội đã chia rẽ và làm tổn thương nhân loại. Ngài sai họ đi trong đám đông có đủ mọi hạng người, ở đó họ trà trộn và đối đầu với các ngôn ngữ và các nền văn hóa, để làm cho các ngôn ngữ, văn hóa đó tìm thấy sự hiệp thông duy nhất trong đức tin…
Nhưng sự ngần ngại luôn phải diễn dịch lại Tin Mừng mà tất cả điều hiểu, biết bao sự do dự nặng nề để đưa sứ điệp vào giữa lòng các não trạng, các môi trường, các nền văn hóa của thời đại chúng ta. Biết bao sợ hãi và từ chối khi Thánh hần “nói với Hội Thánh!”.
2. “Với Chúa sống lại, một tạo dựng mới xuất hiện” (J.Giulleux, trong “Đức Giêsu trong đức tin của các môn đệ tiên khởi” Desclée de Brouwer, 1995, p. 235).
So sánh với khoảng trống mênh mông được mở ra của thánh Matthêu và Luca, cái nhìn hình như bị thu hẹp bằng một cử chỉ vừa quá đơn giản vừa có vẻ máy móc. Nhưng thật sự lạ lùng đối với một sứ mạng bề ngoài có vẻ bị giới hạn, Đức Giêsu lại làm một cử chỉ vừa rộng lớn, lại vừa quyết định như cử chỉ Thiên Chúa tạo dựng vũ trụ. Bởi lẽ khi Ngài thổi hơi vào các môn đệ, và nói “hãy nhận lấy Thánh Thần” (20, 22) Ngài làm lại cử chỉ của Đấng Tạo hóa, thổi hơi vào lỗ mũi của con người đầu tiên làm thành một con người sống, (Ga 2, 7).
Có lẽ phải hiểu với một tầm rộng lớn ý nghĩa tượng trưng của cử chỉ của Đức Giêsu cũng như tầm mức của lời Ngài, ấy là vấn đề khác hơn là một biến cố lớn nhất lịch sử chúng ta. Với Đức Giêsu sống lại, một tạo dựng mới hình thành, một trạng thái hoàn toàn mới của vũ trụ chúng ta. Dù bề ngoài có vẻ đơn sơ, sự tha thứ tội lội như là sự đáp trả lại do Đức Giêsu trước tội nguyên tổ. Tội đã đưa vào thế gian sự chết và sự gian dối.
Cũng như với lời sai đi vì sứ mạng, “Như Cha đã sai Thầy, thì Thầy đã sai các con đi” (Ga 20, 21), phải hiểu các lời nói song song với ý nghĩa tròn đầy của chúng, lời nói mà trong Phúc Âm này, từ lời hứa bánh ban sự sống cho đến lời kinh vĩ đại, mở về cuộc khổ nạn, những lời luôn khẳng định rằng, giữa liên hệ duy nhất và không thể phá vỡ được, nối kết Cha với Con và liên hệ nối kết con với các môn đệ, có một cái gì hơn cả sự kế thừa huyền diệu: một sự duy nhất đích thực và thần thiêng: “Như Cha hằng sống đã sai Thầy, và Thầy sống nhờ Cha, cũng vậy ai ăn Thầy người đó sẽ sống nhờ Thầy” (6, 5) “Lạy Cha, như Cha ở trong Con và Con ở trong Cha, chớ gì chúng cũng nên một trong Ta” (17, 21). Trong cái nhìn này, sứ mạng không phải là sự phát minh ra một khuôn mặt mới, nhưng là tình thương tràn đầy được lan rộng.
FICHES DOMINICALES
(Fiches dominicales, Bulletin de liaison et d’animation
des équipes liturgiques du diocèse Saint-Brieue et Tréguier).
Trở về trang mục lục Suy Niệm
|