SUY NIỆM TIN MỪNG
CHÚA NHẬT XVI THƯỜNG NIÊN A
(Mt.13,24-43)
*****
Bài đọc thêm
SỐ PHẬN
Truyện ngắn của Wladyslaw Reymont, nhà văn Balan,
Giải Nobel văn học 1924.
WLADYSLAW REYMONT
(6.5.1867 - 5.12.1925)
Trời cuối thu, ẩm ướt và u buồn. Bầu trời thấp tè bởi những đám mây đen cuồn cuộn, giăng màu tang ảm đạm, nặng nề. Ngày tháng mười u ám, mịt mờ, run rẩy vì khổ đau; nỗi thất vọng nấc lên trong tiếng rít của gió, còn tiếng mưa tựa hồ tiếng rơi của những giọt nước mắt tuôn trào, không sao cầm nổi. Bởi bất kỳ nơi đâu tầm mắt ta nhìn chỉ thấy cảnh tượng hoang tàn của làng quê, những vết tích tang thương của những cánh rừng bị tàn phá, những nhà thờ đổ nát, những gọng xương đen của những vườn cây ăn quả bị đốt trụi.
Chiến tranh đã chà bàn chân sắt của mình lên khắp nước, khiến cho mọi miền trở thành một nghĩa địa khổng lồ, đây đó trồi lên những ống khói màu đỏ, nom y như những tấm bia mộ còn rỉ máu tươi. Thậm chí vẫn còn đó những bãi chiến trường nhơ nhuốc, tiêu điều, ngổn ngang những tàn dư ghê tởm của những cuộc giết chóc, những trận tàn phá và những đám cháy. Ngay đến cả khí trời cũng nồng nặc mùi xác thối và lửa thiêu. Trên xác người và trong cảnh hoang tàn cái chết đang cất lên bài ca đắc thắng của sức mạnh. Ở phía đằng đông vẫn còn thấy những cột khói đen ngòm cùng những ngọn lửa đỏ của những đám cháy. Những làng quê, những thành phố, những lâu đài ở nơi đó đang bị lửa thiêu và gió đưa và gió đưa về tiếng gầm mờ ảo, đơn điệu và ghê rợn của những cổ đại bác dữ dằn. Còn trên con đường rộng chạy ngoằn ngoèo qua những cánh đồng mờ sương, những đoàn người hốt hoảng đang chạy trốn, nom tựa hồ một dòng bùn đen đang tuôn chảy. Người ta kéo những cổ xe chất đầy đồ đạc và trẻ thơ, những con bò cái dắt theo bằng dây chão rống oang oang và những con chó lạc đường sủa não nùng. Dòng người chảy đi từ những vùng ven, từ những bãi tro tàn và gạch vụn, từ những cánh rừng và những ngôi nhà ổ chuột, trông y như một đ1m rước dài vô tận, họ trốn đi mọi ngả, miễn sao chạy thật xa. Chốc chốc lại một đội kỵ binh phi ngựa vu vơ ập vào dòng người. Chốc chốc lại một chiếc xe ô tô vụt qua gầm rú điên loạn. Dân chúng chạy tản ra mọi hướng và lát sau, khi nguy hiểm đã qua đi, họ lại tiếp tục đi về phía trước. Họ còng lưng vác những bao đồ, họ mệt bơ phờ, họ rách, họ đói, họ bước đi trong cái im lặng ghê rợn, thê lương. Mặt họ đanh lại bởi mệt mỏi vì hoảng sợ và tuyệt vọng. Có những con người chạy trốn đã hàng tuần nay mà chưa được nghỉ ngơi chốc lát, đầu óc họ chẳng còn tỉnh táo. Họ ngủ trong những hầm hào bỏ không, họ ăn bất cứ thứ gì ăn được, khi thì chút lương thực dự trữ còn lại, khi thì xác súc vật vừa tìm được, còn thường thì họ ăn những củ khoai tây hà thối, bới lên từ đất cóng. Cơn lốc chiến tranh đã quét họ khỏi những căn nhà truyền đời và như những chiếc lá khô họ bị xua chạy về phía trước trong hoảng loạn vì sợ hãi. Bỗng nhiên, chừng như thây kệ làn sóng người không gì chặn nổi, một con chó to bự, to như chó sói, nom y hệt một con chó sói, lông màu hung, mịn màng, nanh to và đầu nhọn hoắt, vụt chạy ra khỏi đội hình đoàn người đang chạy trốn, nó sủa liên hồi, đoạn chạy ngược trở lại. Người ta tưởng tự dưng nó sinh dữ tợn.
Chẳng ai biết con chó, chẳng ai giữ nó lại. Nó là con chó bị lát, chẳng hiều từ đâu. Mấy con chó khác rượt theo sau nó, nhưng một lát sau ngoan ngoãn quay trở lại. Nó còn lao đi như điên loạn. Một nỗi nhớ mạnh hơn tất thảy mọi thứ đang kéo nó đi. Nó lao đi tìm làng quê của mình, chuồng của mình và những người chủ của mình. Chạy được một hồi nó ngồi lên ven đường, đôi mắt ngầu đỏ của nó ngó nhìn chung quanh. Mọi thứ đều lạ lẫm đối với nó: những cánh đồng nhơ bẩn này xa lạ, những con đường xa lạ, những đống tro tàn gạch vụn xa lạ, và bất thần nó vụt đứng dậy, chíu mũi xuống sát đất, lao thẳng về hướng đông, về nơi có chiến trận từ đó tiếng đại bác đang vọng về và dân chúng vẫn đang đổ ra đi. Nó chạy băng qua những cánh đồng mờ ảo, mịt mù. (Ảnh chỉ có tính cách minh họa).
Và ngày lại ngày nó uổng công tìm kiếm. Nó lùng sục khắp cả một vùng bán kính rộng tới vài dặm, nó bước chân trên mọi nẻo đường, nó đánh hơi ở mọi làng quê bị thiêu đốt, nó nhập vào những đoàn người đang đóng trại ở trong rừng, nó lang thang ở khu gần trại, nó đánh hơi khắp bãi chiến trường, nó bị ù tai vì tiếng đạn nổ và tiếng hô, tiếng thét, nó coi thường mọi hiểm nguy. Thảnh hoặc một bàn tay nhân hậu bớt cho nó một mẩu bánh mì, còn thường thì nó bị người ta đá cho một phát khi nó sủa xin ăn. Nó gầy đi đáng sợ, nó trở nên man rợ, và vì đói lòng nó không chê bất cứ thứ gì ăn được. Người ta đã nom thấy nó uống máu người, và do vậy thiên hạ nghĩ rằng chắc còn ối chuyện khủng khiếp hơn thế, cho nên hễ nó toan xán lại gần người là gạch đá chào đón nó, gạch đá bay theo nó. Bởi thế nó khinh thường họ, nó tránh xa những làng quê thoát nạn. Nó chẳng buồn đến với lũ trẻ con gọi nó. Nó chỉ còn mải miết đi tìm chủ của mình. Và rồi nó bắt gặp dấu vật quen thuộc, nó nhận ra chính nó đã đi qua con đường này, đã chạy theo dân chúng, làng nó mạn trên, cách đây vào dặm. Nó sủa mừng và dồn hết sức lực còn lại lao đi. Nó nhớ ở ngã tư đường có cây Thánh Giá : chẳng còn thấy những dãy nhà màu trắng, chẳng còn thấy cánh rừng bên kia sông, chẳng còn thấy ngôi nhà to cao ở giữa làng, thậm chí chẳng còn thấy những ruộng đồng nghiêng xuống lòng sông – chỉ thấy những đống gạch vụn, những bờ cát vàng dài vô tận, những vũng bùn, những ngọn cây trơ trụi trong những vườn cây ăn quả bị lửa đốt, gạch vỡ của những ống khói bị gẫy gục và bầy quạ đang nhẩy nhót trên những bãi hoang tàn và đổ nát. Những làn sương tựa hồ những mảnh giẻ rách quên chặt mọi thứ và rồi mưa đổ rào rào không ngớt. Dẫu mọi vật đã hoàn toàn đổi khác, song con chó vẫn nhận ra làng của nó. Nó lùng sục từng xóm nhỏ, nó đánh hơi, nó sủa đổng, nó tìm kiếm trong những đống gạch vụn, ở từng góc sân, trong từng cái hố, nó lần theo từng dấu vết của con người mà vẫn không tìm ra chỗ từng có ngôi nhà của chủ mình. Cả làng tang hoang, đổ nát như vừa qua một trận động đất. Đâu đâu cũng thấy hàng dãy chiến hào sâu thẳm, những lưới dây thép gai, những đống gỗ, những đống gạch, những đống rơm mục nát, những dãy mồ nhấp nhô, những cây Thánh Giá màu trắng, những lò lửa đã lịm tắt từ lâu, những mảnh giẻ rách vá những mảnh sắt kinh khủng còn dính máu người.
Nhưng chẳng ở đâu thấy dấu vết có người, ngay cả dấu vết của hấm trú ẩn cũng không. Con chó hoảng hồn. Nó ngồi cong lưng, chống hai chân, lông dựng đứng, đuôi khoanh tròn và sủa. Nó sủa dai, não nùng và ghê rợn. Nó lao xuống bùn, bới đất bằng móng vuốt và nó rên ư ử vì nỗi đau không rõ nguyên do. Mấy con quạ theo dõi nó, khi thấy nó kiệt sức nằm thừ ra như đã chết, chúng liền rời khỏi cây, quệt mỏ, cất tiếng kêu, nhẩy về phía con chó. Chúng chĩa mỏ nhọn, từ từ vây quanh con chó, nom chúng rất dữ tợn. Mấy con bạo gan nhất giương móng vuốt bay lên; đàn quạ cánh đen, loài chim ăn thít, mỏ cong lúc này đã vây kín con chó; Những tiếng quạ, quạ, cụt lủn, khàn khàn mỗi lúc càng sát gần con chó bạc mệnh. Bỗng nó bật dậy vụt chạy đến ngã tư có cây Thánh Giá, có những bụi cây gai và cỏ khô. Lũ quạ bay đuổi theo nó, nó đậu trên cây Thánh Giá và những ngọn cây, kiên nhẫn đợi chờ. Con chó nằm sóng soải, kiệt sức, và dường như nó khóc khi nó sủa nấc lên từng tràng từ cổ họng. Một nỗi tuyệt vọng nân lên trong tiếng sủa lúc này của nó. Nó chẳng thể lết đi được nữa, cái đói đang cào xé ruột gan của nó. Nó chẳng còn nơi nào để mà tìm.
Thần chết đang lởn vởn trên đầu nó, cả đàn quạ đã đậu kín mấy bụi cây gai.
Những giờ đồng hồ dài dằng dặc đã trôi qua như vậy, và khi thình lình có mùi nhà và mùi người bay vào mũi nó, nó nhẩy ra mặt đường, đoạn nó bò theo hướng có hơi người. Nó bắt gặp ở giữa làng, dưới đống gạch của bức tường nhà thờ bị đổ có mấy người nghèo đang nằm nghỉ. Một đống lửa lớn đang cháy ở đàng trước túp lều áp vào tường rào, dựng bằng những thanh gỗ và cành cây. Khoai tây nướng bốc mùi. Trên chiếc ghế đệm rơm mấy đứa trẻ đang ngồi ôm lấy nhau, mấy người đàn bà ngồi quay mặt vào đống lửa, và một ông già đang dùng que sắt bới ra khỏi đống lửa những củ khoai tây nướng, đoạn lão quẳng cho mấy đứa trẻ và cả lão nữa cũng ăn ngấu nghiến. Con chó bò lại chỗ đống lửa, sủa nhỏ nhẹ.
- Cút đi ! – Lão già quát lớn, giương cao thanh sắt dọa con chó. Con chó nhảy sang bên, tuy nhiên cái đói cồn cào ruột gan và yêu cầu không cưỡng nổi là được đến với con người kéo nó trở lại. Thậm chí nó chẳng sủa, con chó ứa lệ van xincho nó một chỗ bên đống lửa, van xin một lời nói ân huệ của con người. Lúc này lão già nhìn con chó bằng cặp mắt lạ kỳ đến nỗi khiến nó đứng sững lại, rồi nhìn thẳng vào mắt lão với vẻ nghi ngờ.
- Này, chú chó cưng của ta ơi. Đừng sợ, đồ ngu – lão nói vỗ về, đoạn quẳng cho con chó miếng mồi khopai tây, cùng lúc đôi mắt đói của lão nhìn vuốt theo tấm lưng to của con chó. Chừng như thấu hiểu cái nhìn thèm thịt của lão, con chó từ từ lủi ra khỏi đống lửa.
- Các con ơi, gọi nó đi ! – Con chó mới khôn làm sao – và lão gọi theo nó, ra sức vuốt ve mồi chài nó.
Tuy nhiên, những lời dỗ dành đó chẳng ăn nhằm gì. Con chó thở hổn hển, sùi bọt mép, miệng nó run cầm cập, người nó run bắn, nhưng nó vẫn phải canh chừng. Những cặp mắt kia đang dõi nhìn như muốn nuốt tươi nó và những cánh tay kia dường như đang muốn tóm lấy hong nó. Thế rồi lão già bất thần nện thanh sắt vào lưng nó, trước khi lão kịp đập thêm cú nữa, con chó vùng chạy, kêu ăng ẳng vì đau đớn.
Đàn quạ bay đuổi theo con chó, rồi đậu trên những bụi gai dưới cây Thánh Giá, chỗ con chó lẩn trốn và tắt thở trong đau đớn.
Mưa vẫn rơi, mưa quất vào cành cây, nước mưa tuôn chảy dọc cây Thánh Giá. Tượng Đức Giê-su bằng đồng, đầu đội vòng gai, trần trụi, trên thân mình đầy những vết thương còn mới do đạn súng trường và đạn đại bác bắn vào, dường như đang giương mắt nhìn vào thế gian sầu thảm, rỉ máu, hoen ố vì những cuộc chém giết và thầm gọi :
- Cha ơi, Cha ơi ! Sao Cha nỡ bỏ con ?
Từ những miền xa xăm tiếng đại bác vẫn không ngớt vọng về - tựa hồ những chiếc búa đang nện không thương xót vào quan tài của mỗi sinh linh.
Sưu tầm
Trở về trang mục lục Suy Niệm
|