Suy gẫm Sưu tầm
Trang nhà
Cánh đồng truyền giáo
Tìm hiểu Đạo Công Giáo
Suy niệm
Nghệ thuậtt Sống
Nhịp sống quanh ta
Văn Học Nghệ Thuật
Giáo xứ An Long
Quán Ven Đường
Hộp thơ
 


LÉOPOLD CADIÈRE,

NHÀ VIỆT NAM HỌC NƯỚC NGOÀI ĐẦU TIÊN

Lépold Michel Cadière sinh tại Aix-en-Provence (Pháp) ngày 14 tháng 2 năm 1869, trong một gia đình nông dân nghèo. Ông đã trải qua tuổi thơ nhọc nhằn trong một gia đình truyền thống, người cha cần cù với việc đồng áng và người mẹ đức hạnh chăm lo cho cuộc sống của chồng con.

Ông rời Pháp lúc 23 tuổi, trong chiếc áo linh mục thuộc Hội Thừa Sai Paris (M.E.P) để đến Việt Nam. Mẹ ông đã qua đời vào mùa đông năm 1892, vài ngày trước khi con tàu ông đi cập bến Đà Nẵng. Từ đó, L.Cadière rất hiếm khi trở lại Pháp. Ông gắn bó với Việt Nam, coi đây là quê hương thứ hai của mình.
Để có thể được cử đi làm mục vụ ở Viêt Nam, vị linh mục trẻ học tiếng Việt một thời gian ngắn ở Paris, rồi tiếp tục học thêm ở trên tàu. Gặp thời tiết xấu, chưa về Huế được, trong lúc chờ đợi, ông lại miệt mài học. Sau này ông nhớ lại: “Học tiếng Việt, không phải để nói tiếng Việt giỏi giống người Việt mà còn phải tâm tư suy nghĩ giống như họ” (Hồi ký của L.Cadière).

Ở Huế, L.Cadière may mắn có vị bề trên là Giám mục Caspar đã khai tâm cho ông về nghiên cứu ngôn ngữ, lịch sử, dân tộc học, tôn giáo… Việt Nam. L.Cadière nhớ lại: “Đó là một ông thánh, một nhà bác học, tôi đã được học rất nhiều. Chính người đã dẫn dắt tôi về các nghiên cứu… Người đã khai mào, khích lệ, hướng dẫn tôi. Không những người am tường ngôn ngữ và chữ Nho mà còn rất tường tận lịch sử của xứ này”.
Từ năm 1893 đến 1895, L.Cadière được cử làm giáo sư tại Chủng viện An Ninh rồi giáo sư Đại Chủng viện Huế, dạy thần học, triết học và tu từ học. Từ tháng 10 năm 1895, ông được cử đi làm chánh xứ Tam Tòa (Quảng Bình). Nơi đây có Lũy Thầy do Đào Duy Từ xây dựng từ năm 1630 phân định ranh giới giữa Đàng Trong và Đàng Ngoài. Vùng đất Quảng Bình đã cung cấp tư liệu cho L.Cadière viết công trình nghiên cứu về Lũy Thầy (tên công trình là Lũy thành Đồng Hới) được giải thưởng Học viện nước Pháp (Institut de France) năm 1903, và đăng ở Tập san Trường Viễn Đông Bác Cổ Pháp (BEFEO) năm 1906.

Từ Tam Tòa, ông được cử đi làm việc tại nhiều giáo xứ khác, như Cù Lạc (Quảng Bình), Cổ Vưu (nay là Trí Bưu), Dinh Cát, Di Loan (Quảng Trị). Đến đâu ông cũng quan tâm nghiên cứu lịch sử, văn hóa, ngôn ngữ địa phương ấy, và điều có bài viết, hầu hết đăng ở tạp chí khoa học rất có uy tín thời bấy giờ là BEFEO, và sau đó ở tờ nguyệt san do chính ông làm chủ bút: Tập san Đô thành hiếu cổ (BAVH – Bulletin des Amis du Vieux Hué), xuất bản đều đặn hàng tháng tại Huế suốt 30 năm (1914-1944).Tập san này đã được đưa vào đĩa CD từ năm 1997 do Philippe Papin thuộc Trường Viễn Đông Bác Cổ Pháp và Nguyễn Hồng Trân, giảng viên chính, Giám đốc Thư viện Khoa học Trường Đại học Tổng hợp Huế, cùng thực hiện, Nhà xuất bản Thuận Hóa lần lượt dịch ra tiếng Việt và xuất bản tại Huế.

Năm 1910, L.Cadière ốm nặng, phải về Pháp chữa bệnh. Trong thời gian điều trị, ông sang Louvain (Bỉ) tham dự Tuần dân tộc học tôn giáo và thuyết trình “Chỉ dẫn thực hành cho các vị thừa sai khi nhận xét về tôn giáo”, và “Về các tôn giáo ở Việt Nam”.
Với hai tham luận này, L.Cadière được các giới trí thức, học giả Pháp đặc biệt quan tâm. Trường Viễn Đông Bác Cổ Pháp ủy thác cho ông truy cứu, sưu tầm trong các thư khố ở Pháp về bang giao giữa châu Âu và Vương quốc An Nam. Ông đã sang La Mã nghiên cứu và tìm được ở thư viện Tòa thánh Vatican bản chép tay cuốn từ điển của Alexandre de Rhodes. Tại đây, nhiều tác phẩm khác cung cấp cho ông những mốc giới về lịch sử hình thành và sự biến đổi trong ký âm pháp chữ quốc ngữ theo mẫu tự La tinh.

Tại Paris, ông tận dụng các tài liệu lưu trữ của Hội Thừa Sai Paris, tìm được một số thư từ trao đổi giữa vua Gia Long và các sĩ quan Pháp tháp tùng Giám mục Bá Đa Lộc vào thế kỷ XVIII. Ngoài ra, còn tìm thấy tập hồi ký của Bénigne Vachet về xứ Đàng Trong đăng trong Tập san của Đoàn Khảo cổ học Đông Dương thời trước.
Trở lại Việt Nam, L.Cadière được cử làm Tuyên úy Trường Pellerin Huế mấy năm (1912-1918). Thời gian này ông có dịp giao lưu với một số học giả tên tuổi của nước ta và trí thức Pháp hồi ấy, cùng nhau thành lập Hội Những người bạn Cố đô Huế (Hội Đô thành hiếu cổ), và xuất bản tập san BAVH ấn hành đều đặn mỗi năm 4 số.
Năm 1918, ông được cử đi làm chánh xứ Di Loan (Quảng Trị), một trong những cơ sở lâu đời nhất của Thiên Chúa giáo tại Việt Nam, và sống luôn ở đấy tới năm 1945. Ông đã có một công trình nghiên cứu về vùng đất này. Thời gian này, L.Cadière được mới làm ủy viên Trường Viễn Đông Bác Cổ Pháp (E.F.E.O). Ông có thêm cơ hội tiếp tục các công trình nghiên cứu khoa học.
Tháng 3 năm 1945, phát xít Nhật đảo chính, hất cẳng thực dân Pháp tại Đông Dương. L.Cadière bị Nhật đưa về quản thúc tại Huế. Kháng chiến toàn quốc bùng nổ, để bảo đảm an toàn cho các tu sĩ Pháp, chính quyền ta chuyển các cố đạo Pháp đang ở thành phố Huế ra vùng tự do, sống tại Giáo phận Xã Đoài (gần thành phố Vinh). Giữa năm 1953, tuy kháng chiến chống thực dân Pháp đang khốc liệt, theo chính sách nhân đạo và có sự thỏa thuận với Pháp, chính phủ ta cho phép các cố đạo Pháp đang sống gần Vinh được trở về nước. L.Cadière đã cùng các cha cố Pháp khác xuống xuồng ra Phát Diệm (Ninh Bình) thuộc vùng tạm chiếm. lúc này đã 84 tuổi, ông nêu nguyện vọng: “Cả đời tôi, tôi đã dâng cho xứ sở này, cho tôi được ở lại và chết ở đây”.
L.Cadière được trở lại Huế và sống tại cố đô những ngày cuối cùng. Ông mất hai năm sau, ngày 6 tháng7 năm 1955. Và được an táng tại nghĩa trang của Đại Chủng viện Huế tại làng Kim Long. Mộ chí của ông hiện nay còn ở đấy.

Trong 60 năm sống và làm việc tại Việt Nam (trong đó gần 30 năm ở tỉnh Quảng Trị), L.Cadière đã để lại khoảng 250 công trình nghiên cứu, hầu hết có giá trị. Các lĩnh vực ông nghiên cứu về Việt Nam khá đa dạng: ngôn ngữ, tín ngưỡng, địa lý nhân văn, sinh thái, môi trường, giao thông, thủy lợi. Đặc biệt, ông đi sâu tìm hiểu lĩnh vực văn hóa và dân tộc học (phong tục, tập quán, sinh hoạt, nền nếp gia phong, lễ thờ cúng tổ tiên, cho đến nghệ thuật một số ngành thủ công…), cung cấp cho chúng ta nhiều tư liệu rất có giá trị.

Năm 1942, trong buổi bạn bè mừng ông tròn 50 năm được sống và làm việc tại Việt Nam, L.Cadière phát biểu:
“Tôi hiểu người Việt Nam bởi vì tôi nghiên cứu những gì liên quan tới họ. Tôi học tiếng họ từ ngày tôi mới đến, tôi vẫn còn tiếp tục học và nhận thấy rằng tiếng Việt rất tinh tế về mặt cấu trúc, và cũng không nên xem nhẹ sự phong phú về từ ngữ như có người đã suy nghĩ.
Tôi đã nghiên cứu tín ngưỡng, các thực hành nghi lễ tôn giáo, phong tục tập quán của họ và phải thừa nhận rằng, người Việt Nam rất sâu sắc về tôn giáo, tìn ngưỡng của họ trong sáng…
Tôi đã nghiên cứu lịch sử của họ xuyên qua các thế kỷ đặc biệt là từ triều Nguyễn, và nhận thấy rằng đất nước Việt Nam từ khởi thủy đã không ngừng nung nấu một chí hướng cao về sự phát triển và tiến bộ; đã miệt mài theo đuổi thực hiện chí hướng ấy với sự hào hùng, can đảm và linh hoạt thích ứng với từng hoàn cảnh trên con đường phát triển của mình.
Vì đã nghiên cứu và hiểu được người Việt nên thật tình tôi yêu mến họ.
Tôi yếu mến họ vì trí thông minh, nhạy bén trong suy nghĩ. Tôi đã làm thầy giáo, đã từng làm giám khảo thi cử, nên trong vấn đề này, tôi có thể đưa ra những phán đoán có cơ sở.
Tôi yêu mến họ vì những đức hạnh tinh thần. Thuộc tầng lớp nông dân, rồi sống ở Việt Nam giữa nông dân, tôi có thể thấy rằng nông dân Pháp và nông dân Việt Nam giống nhau lạ lùng: Bên này cũng như bên kia, từng ý tưởng vụn vặt của cuộc sống hằng ngày, việc đồng áng, chợ đò; rồi những bữa cơm thường ngày v.v.
Mặt khác, bên này cũng như bên kia, những tình cảm cao cả, tình yêu thương đậm đà của gia đình, sự giúp đỡ, tương trợ lẫn nhau; chuyên cần trong công việc, nhẫn nhục trong cuộc sống nghèo nàn, khổ cực hằng ngày.
Tôi yêu mến họ vì tính tình của họ.
Trước đây, khi tôi có dịp đi lại bằng võng hay bằng thuyền, tôi đã thấy được và cảm phục niềm vui sống, sự tươi vui cởi mở, tâm trí hồn nhiên của mấy bác gánh võng hay chèo thuyền, mặc dầu họ thật là vất vả, nhọc nhằn suốt hàng giờ, hàng ngày...
Sau cùng tôi yêu mến họ vì họ nghèo.
Bao nhiêu khổ ải, biết bao nhọc nhằn lầm than! Những khốn cùng đôi khi phải cam chịu đã đành, nhưng cũng có những điều thường do định mệnh khắt khe vô tình đưa đến”.

Linh mục L.Cadière nổi bật không chỉ nhờ những công trình nghiên cứu khoa học công phu mà còn được nhiều người dân biết đến như một con người có tấm lòng nhân ái bao la, nếp sống giản dị, dễ dàng hòa nhập với người bất cứ địa phương nào ông đang sống. Có thể nói, thời trước ít có người ngoại quốc nào có tâm tình trìu mến đầy trân trọng đối với dân tộc ta, quan tâm tìm hiểu văn hóa phong tục, kể cả những điều tưởng là vụn vặt hàng ngày của người dân Việt, như linh mục L.Cadière. Đến lúc già yếu “gần đất xa trời”, ông muốn gởi thân xác tại quê hương thứ hai mà ông đã suốt đời gắn bó. Léopold Cadière đúng là nhà Việt Nam học người nước ngoài đầu tiên có nhiều đóng góp đáng trân trọng về khoa học – xã hội và nhân văn cho đất nước Việt Nam. Nhân dịp tròn 140 năm sinh của ông, chúng tôi tỏ lòng tri ân và ngưỡng mộ.
Huế, 10.2009. (Theo Kiến Thức Ngày Nay, số 692)

Nguyễn Hồng Trân

 

 

 

 

 

                                         



 

CHÚA NHẬT 4 MÙA VỌNG
"Em được chúc phúc hơn mọi người phụ nữ, và người con em đang cưu mang cũng được chúc phúc. Bởi đâu tôi được Thân Mẫu  Chúa tôi đến với tôi thế này?” (Lc 1,42-43)
 


LỊCH


Mọi liên hệ xin gởi về:
Điện thư:
anlongparish@yahoo.com


SUY NIỆM TIN MỪNG

QUÁN VEN ĐƯỜNG


NGHE NHẠC
Mời vào nghe nhạc
LƯỚT WEB 5 CHÂU

3 PHÚT CẦU NGUYỆN
BẰNG THÁNH VỊNH ĐÁP CA

TÂMDUY FOTO

CHUYỆN PHIẾM
GÃ SIÊU



Tra từ điển với nhiều ngôn ngữ:

Các bạn bấm chọn loại tự điển vào mũi tên ở góc trái, dưới. Sau đó highlight và click từ muốn tra.