SƠ LƯỢC
SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN
GIÁO PHẬN MỸ THO
2010
DỊP MỪNG 50 NĂM THÀNH LẬP GIÁO PHẬN
Lm Phêrô PHẠM BÁ ĐƯƠNG

1. CÔNG GIÁO TRONG VÙNG ĐẤT MỸ THO TRƯỚC KHI GIÁO PHẬN ĐƯỢC THÀNH LẬP
Câu 1. Việc mở rộng bờ cõi nước Nam đến vùng Chân Lạp (Lục tỉnh) đã được thực hiện từ bao giờ?

Trước năm 1069, nước Việt còn ở tận ngoài đèo Ngang. Cho đến năm 1659, khi Tòa Thánh thiết lập 2 giáo phận đầu tiên ở Việt Nam (Đàng Trong và Đàng Ngoài) thì nước Việt đã mở rộng tới tỉnh Khánh Hòa ngày nay. Khoảng cuối thập niên 1750, toàn bộ miền Nam Lục tỉnh thuộc về nước Việt.
Theo sử liệu, trước năm 1069 ranh giới phía Nam của nước Việt còn ở tận ngoài đèo Ngang. Ở phía Nam của đèo là nước Chiêm Thành hay còn gọi là Lâm Ấp. Vì Chiêm Thành quấy nhiễu vùng biên giới nước Việt, Lý Thánh Tông đã mở cuộc đánh phạt vào năm 1069. Vua Chiêm Thành bị bắt và ông dâng một phần đất để chuộc tội. Bị mất đất, người Chiêm Thành luôn tìm cơ hội đánh phá để lấy lại. Cứ mỗi lần như thế thì các vua chúa nước Việt mở những cuộc chinh phạt. Mỗi khi Chiêm Thành thua trận cũng là mỗi lần đất của họ bị mất đi một phần vào tay người Việt. Đó còn chưa kể đến lần vua Chiêm Thành dâng đất để cưới công chúa Huyền Trân.
Cho đến năm 1659, khi Tòa Thánh thiết lập 2 giáo phận đầu tiên ở Việt Nam (Đàng Trong và Đàng Ngoài) thì nước Việt đã mở rộng tới tỉnh Khánh Hòa ngày nay. Năm 1697, Chúa Nguyễn chiếm lấy phần đất cuối cùng của nước Chiêm Thành là Phan Rí và Phan Rang, từ đó nước Chiêm thành hoàn toàn bị mất hẳn.
Chúa Nguyễn còn tiếp tục mở rộng lãnh thổ sang nước Chân Lạp bằng nhiều cách khác nhau: Trợ giúp các vua Chân Lạp chống lân bang, hoặc những khi nội bộ vương triều của Chân Lạp chia rẻ và tranh giành quyền lực, họ lại chạy đến cầu viện chúa Nguyễn để chống lại nhau, thường cứ mỗi lần như vậy họ lại dâng một phần đất cho chúa Nguyễn để đền tạ. Khoảng cuối thập niên 1750, toàn bộ miền Nam Lục tỉnh thuộc về chúa Nguyễn.
Câu 2. Dân Việt đã đến sinh sống ở vùng Chân Lạp từ bao giờ? Vì lý do nào?

Khi một công nữ con của chúa Nguyễn (chúa Sãi) được vua Chân Lạp Chey Chettha II cưới về làm hoàng hậu vào năm 1620, dân Việt bắt đầu vào sinh sống ở vùng này. Lý do:
- Vì vùng Chân Lạp có sông nước dồi dào, ruộng đất phì nhiêu và vì cuộc phân tranh Trịnh Nguyễn kéo dài cả nửa thế kỷ đã làm dân chúng phải khổ sở và sợ hãi.
- Vì sự bách hại Kitô giáo, nhiều nhóm tín hữu Công Giáo đã phải trốn vào Nam để sinh sống và duy trì đức tin.
- Vì chính sách di dân của chúa Nguyễn nhằm khuyến khích dân Việt đến khai phá và canh tác trong vùng đất màu mở này.
Trước khi chính quyền Việt nắm quyền kiểm soát vùng đất Chân Lạp, dân Việt đã vào khai phá vùng đất này. Theo tác giả Phan Khoang, sau khi một công nữ con của chúa Nguyễn (chúa Sãi) được vua Chân Lạp Chey Chettha II cưới về làm hoàng hậu vào năm 1620, bà đã đem nhiều người Việt đến vùng Chân Lạp, và có những người trong số này được giữ chức hệ trọng trong triều đình Chiêm Thành. Năm 1623, chúa Nguyễn đã được Vua Chân Lạp đồng ý cho lập một cơ sở và một sở thu thuế tại vùng đất mà ngày nay gọi là Sài Gòn. Kể từ đó ngày càng nhiều người Việt đến vùng Chân Lạp định cư sinh sống.
Những lý do nào khiến dân Việt đến đây sinh sống?
Lý do thứ nhất, như Trần Trọng Kim giải thích, đó là vì vùng Chân Lạp có sông nước dồi dào, ruộng đất thì phì nhiêu; trong khi đó ở nước Nam lại hay bị mất mùa, dân tình thường xuyên phải đói khổ. Cho đến hôm nay ta vẫn còn kinh nghiệm được điều này. Thêm vào đó, cuộc phân tranh Trịnh Nguyễn kéo dài cả nữa thế kỷ (1627-1672) đã làm dân chúng phải khổ sở và sợ hãi. Họ ra đi tìm sự bình yên để lo làm ăn sinh sống. Chắc chắn rằng trong số những người đó không thiếu vắng những Kitô hữu.
Lý do thứ hai là vì sự bách hại Kitô giáo. Từ năm 1644, chúa Nguyễn đã ra lệnh cấm đạo. Sự cấm cách trở nên gay gắt trong giai đoạn 1691-1725. Sau đó, các Ki tô hữu tạm được yên ổn. Ngày 16.11.1744, Đức Giáo Hoàng Benoit XIV ra sắc lệnh cấm những thực hành thờ cúng tổ tiên. Sắc lệnh này đã gây nên sự phản ứng mạnh mẽ trong vương triều và lệnh cấm đạo được ban hành. (Việc cấm thờ cúng ông bà cũng là nguyên nhân chính của những cuộc bách hại đạo sau này, cho đến khi Pháp xâm chiếm Việt Nam.)
Trong những giai đoạn cấm đạo như thế này, nhiều nhóm tín hữu Công Giáo đã phải trốn vào Nam để sinh sống và duy trì đức tin. Có lẽ vùng đất giáo phận Mỹ Tho đã tiếp nhận các Kitô hữu đến định cư trong giai đoạn bách hại 1691-1725.
Lý do thứ ba là chính sách di dân của chúa Nguyễn. Sau khi chiếm vùng Chân Lạp, chúa Nguyễn đã khuyến khích dân Việt đến khai phá và canh tác trong vùng đất màu mở này.
Câu 3. Những vùng đất nào trong giáo phận Mỹ Tho đã tiếp nhận những Ki tô hữu đầu tiên đến định cư?

- Những Kitô hữu đầu tiên đến Ba Giồng khoảng năm 1700.
- Đầu thế kỷ 19, Nha Ràm và Thủ Ngữ đã có các Kitô hữu đến định cư.
- Từ giữa thế kỷ 19, số giáo xứ tăng nhanh và nằm rải rác đều trong các vùng thuộc giáo phận.
Ba Giồng được xem là nơi tiếp nhận cộng đoàn Kitô hữu đầu tiên trong giáo phận. Theo những lời truyền tụng được xem là chắc chắn thì vào khoảng năm 1700 (Canh Thìn) hoặc 1702, do Minh Vương ban hành chỉ dụ cấm đạo, nên có chừng 20 ghe biển mang theo khoảng 30 gia đình Kitô giáo rời Phú Yên về hướng Nam. Họ đi đến con sông cái ở đoạn giữa Gò Công và Chợ Lớn. Con sông này do sông Vàm Cỏ Đông và Vàm Cỏ Tây nhập lại kết thành. Đoàn ghe đi ngược dòng sông đến một con rạch gọi là Rạch Chanh. Họ dừng tại đây và lập cư trên rạch. Sau khi đã ổn định nơi ở, một số người đưa ghe về Phú Yên rước thêm một nhóm Kitô hữu đông hơn lần trước vào chung sống với họ. Vì ở gần sông nên họ bị một vị quan phát hiện khi ông đi thuyền từ Sài Gòn đến Châu Đốc. Một số trong họ bị bắt và đem đi. Số còn lại sợ hãi, rời nơi ấy đi sâu vào rừng, tới chỗ Ba Giồng ngày nay và lập cư tại đó.
Những lời truyền tụng về thời gian và sự hình thành của giáo xứ Ba Giồng rất phù hợp với những sử liệu đã khảo sát bên trên. Ngoài ra, còn có những chứng tích rất rõ ràng về thời gian hình thành giáo xứ, đó là các mộ bia. Tại đất thánh của họ đạo Ba Giồng ngày nay còn tồn tại vài ngôi mộ cổ của người Công Giáo với niên đại được ghi trên mộ chí: 1663-1664.
Hai giáo xứ được hình thành kế tiếp là Nha Ràm và Thủ Ngữ. Giáo xứ Nha Ràm được hình thành từ năm 1802 tức là sau giáo xứ Ba Giồng khoảng 100 năm. Giáo xứ Thủ Ngữ đã có Cha Sở đến phục vụ từ năm 1820. Như vậy, chắc chắn giáo xứ Thủ Ngữ đã được hình thành trước đó. Dựa vào một vài sử liệu, có Cha cho rằng giáo xứ này được hình thành trước giáo xứ Nha Ràm.
Từ giữa thế kỷ 19, số giáo xứ tăng nhanh và nằm rải rác đều trong các vùng thuộc giáo phận.
Xem tiếp | 2 | 3 | 4 |
Trở về trang mục lục Câu Chuyện Truyền Giáo

|