THEO CHÂN THÁNH PHAOLÔ - TÔNG ĐỒ DÂN NGOẠI
CHÚNG TA LÊN ĐƯỜNG TRUYỀN GIÁO
Khóa Tĩnh Huấn Hội Đồng Mục Vụ
Giáo Xứ Giáo Phận Long Xuyên - Tháng 11-2009
I. CẦU NGUYỆN MỞ ĐẦU
1.1 Gợi ý của người hướng dẫn
Chúng ta đang hướng về Năm Thánh 2010 của Giáo Hội Việt Nam. Năm Thánh 2010 có nhiều ý nghĩa và mục đích cao đẹp là
(a) Cảm tạ Thiên Chúa và ghi nhớ công ơn tổ tiên về việc Đạo Thánh Chúa đã có mặt trên mảnh đất hình chữ S này gần 400 nay.
(b) Canh tân đổi mới đời sống đức tin của mọi thành phần Dân Chúa.
(c) Đẩy mạnh việc thực thi Sứ Mạng Loan Báo Tin Mừng của Giáo Hội Việt Nam nói chung, của mỗi cộng đoàn, mỗi người công giáo Việt Nam nói riêng.
Trong khung cảnh và thời điểm mang tính “lịch sử” có một không hai này, hôm nay Giáo Phận Long Xuyên tổ chức một Khóa Tĩnh Huấn đặc biệt dành cho các Hội Đồng Mục Vụ Giáo Xứ Giáo Phận, nhằm đạt được ba ý nghĩa và mục đích nêu trên của Năm Thánh 2010. Chúng ta sẽ dành một thời khoảng thời gian cho đề tài:
“THEO CHÂN THÁNH PHAO-LÔ - TÔNG ĐỒ DÂN NGOẠI,
CHÚNG TA LÊN ĐƯỜNG TRUYỀN GIÁO”
Việc Ban Tổ Chức chọn đề tài về Truyền Giáo cho Khóa Tĩnh Huấn cũng phù hợp với tinh thần của Sứ Điệp của Đức Thánh Cha Bê-nê-đic-tô XVI nhân ngày Truyền Giáo 18.10.2009. Trong lời kết của Sứ Điệp ấy, Đức Thánh Cha đã nhận định rằng:
“Đà tiến truyền giáo luôn luôn là dấu chỉ sức sinh động của các Giáo Hội chúng ta.”
Về lời nói trên của Đức Thánh Cha, chúng ta có thể hiểu rằng: một Giáo Hội sống động chắc chắn là một Giáo Hội truyền giáo. Và ngược lại một Giáo Hội không (hay ít) truyền giáo thì đúng là một Giáo Hội không sống động.
Chúng ta sẽ học cùng Thánh Phao-lô, vị Tông Đồ Dân Ngoại, để biết Ngài coi trọng Công Cuộc Truyền Giáo hay Loan Báo Tin Mừng như thế nào và biết Ngài đã dùng những Chiến Thuật và Phương Thế nào để loan báo Tin Mừng Cứu Độ của Thiên Chúa mà Chúa Giê-su Ki-tô đã đem đến cho nhân loại.
Chúng ta hãy nguyện xin Thánh Thần Thiên Chúa xuống trên mỗi anh chị em chúng ta, để Người biến đổi chúng ta thành những tông đồ nhiệt thành, ra đi loan báo Tin Mừng cho những ngưòi đang khát khao gặp được Thiên Chúa. Chúng ta hãy cùng nhau cầu nguyện bằng bài ca «Thần Khí Chúa sai đi!»
1.2 Cùng hát: Thần Khí sai đi
ĐK.- Thần Khí Chúa đã sai tôi đi. Sai tôi đi loan báo Tin Mừng. Thần Khí Chúa đã hiến thánh tôi. Sai tôi đi, Ngài sai tôi đi.
1) Sai tôi đến với người nghèo khó, sai tôi đến với người lao tù. Mang Tin Mừng giải thoát: Thiên Chúa đã cứu tôi.
2) Sai tôi đến với người than khóc, sai tôi đến với người âu sầu. Mang Tin Mừng an ủi: Thiên Chúa đã cứu tôi.
II. ĐẶT VẤN ĐỀ
2.1 Tại sao Thánh Phao-lô được gọi là Tông Đồ Dân Ngoại?
2.2 Công Cuộc Truyền Giáo hay Loan Báo Tin Mừng có tầm quan trọng như thế nào đối với Thánh Phao-lô?
2.3 Để loan báo Tin Mừng, Thánh Phao-lô đã sử dụng chiến thuật và phương thế nào?
2.4 Chúng ta có thể học được gì từ Thánh Phao-lô là Nhà Truyền Giáo nhiệt thành, là Vị Tông Đồ Dân Ngoại vĩ đại của Ki-tô giáo?
III. HỌC HỎI VÀ CHIA SẺ
3.1 Tại sao Thánh Phao-lô được gọi là Tông Đồ Dân Ngoại?
- Linh mục Mát-thêu Nguyễn Khắc Hy, thuộc Hội Xuân Bích, giáo sư Kinh Thánh tại Mỹ, trả lời câu hỏi “Tại sao Thánh Phao-lô được gọi là Tông Đồ Dân Ngoại?” như sau: “Câu trả lời một cách ngắn gọn là vì trong thư gởi tín hữu Ga-lát, Thánh Phao-lô đã tự nhận danh hiệu này cho mình: “Tôi đã được ủy thác nhiệm vụ loan báo Tin Mừng cho những người không được cắt bì, cũng như Phê-rô được ủy thác nhiệm vụ loan báo Tin Mừng cho những người được cắt bì. Thật vậy, Đấng đã dùng ông Phê-rô hoạt động tông đồ cho những người được cắt bì, cũng đã dùng tôi hoạt động cho dân ngoại” (Gl 2, 7-8).
“Về mặt lịch sử, bối cảnh của giáo đoàn Ga-lát mà Thánh Phao-lô viết những lời này giúp ta hiểu hơn về vai trò Tông Đồ Dân Ngoại của ông. Trong chuyến hành trình đến Ga-lát lần thứ hai, khi còn dừng chân ở Ê-phê-sô, Thánh Phao-lô đã nghe biết một số người loan tin rằng Phao-lô không phải là Tông Đồ, và sứ mạng ông rao giảng không được Chúa Ki-tô hay các Tông đồ trao phó (Gl 1,1.7.12). Hơn nữa, ông Phao-lô rao giảng ngụy tin mừng (không là Tin Mừng thật) (Gl 1,7) vì ông cho phép những người theo Ki-tô giáo không cần phải giữ luật Mô-sê, như không giữ những ngày lễ ghi trong lịch Do Thái và không chịu cắt bì chẳng hạn (Gl 4,10; 6,12). Nhiều người còn vu cáo ông là người “đón gió trở cờ” hay theo cơ hội, vì có lúc ông chấp nhận phép cắt bì cho tân tòng (Gl 5,11), nay thì dạy là không cần cắt bì để nhằm có thêm nhiều tân tòng gia nhập đạo. Những tin đồn và vu cáo này là nguyên nhân khiến Thánh Phao-lô viết thư khẳng định giáo huấn thần học Ngài dạy và vai trò “Tông Đồ Dân Ngoại” của mình.
“Trước hết, với những người Do Thái trung thành với luật Mô-sê mà nay tin theo Chúa Ki-tô, Thánh Phao-lô tôn trọng những luật lệ họ giữ, và nêu rõ là Thánh Phê-rô được sai đến với họ, “những người chịu cắt bì này” (Gl 2,7-8). Với những người ngoại (không chịu cắt bì như người Hy Lạp, Ro-ma, Ai Cập…), Thánh Phao-lô rao giảng rằng họ không cần phải chịu cắt bì hay giữ tất cả luật Mô-sê khi tin theo Đức Giê-su Ki-tô. Quyết định này không là ý kiến cá nhân của Phao-lô mà là kết quả của Công Đồng Giê-ru-sa-lem trong đó Thánh Gia-cô-bê, Giám Mục Giê-ru-sa-lem, thay mặt các Tông Đồ công bố (Cv 15,1-21).
“Vì thế Thánh Phao-lô đã phản bác những tuyên truyền sai lạc của những người mà Ngài gọi là “kẻ phá rối” (Gl 1,7), và khẳng định rằng Ngài chính là Tông Đồ, được sai bởi Thiên Chúa, và Tin Mừng Ngài rao giảng được Thiên Chúa mặc khải qua Đức Giê-su Ki-tô (Gl 1,1.12). Và với tính khẳng khái, Thánh Phao-lô công bố rằng Tin Mừng Ngài nhận là từ Thiên Chúa chứ không phải từ loài người. Do đó, nếu có ai đến rao giảng những gì nghịch lại với Tin Mừng Ngài dạy, ngay cả các Tông Đồ hay các Thiên Thần từ trời xuống, Thánh Phao-lô cảnh báo giáo dân không được tin theo (Gl 1,8-9).”
3.2 Tầm quan trọng của Công Cuộc Truyền Giáo hay Loan Báo Tin Mừng đối với Thánh Phao-lô.
1o) Thánh Phao-lô dành trọn cuộc đời cho Truyền Giáo: Muốn hiểu Công Cuộc Truyền Giáo hay Loan Báo Tin Mừng quan trọng như thế nào đối với Thánh Phao-lô, thì chúng ta chỉ cần nhăc lại rằng Thánh Phao-lô đã dành trọn cuộc đời cho Công Cuộc Truyền Giáo hay Loan Báo Tin Mừng. Thánh Phao-lô đã khẳng định quan điểm, lập trường và chọn lựa của Ngài như sau:
- “Thật ra Chúa Ki-tô không gửi tôi đi rửa tội, nhưng là để loan báo Tin Mừng” (1 Cr 1,17);
- “Khốn thân tôi nếu tôi không rao giảng Tin Mừng” (1 Cr 9,16);
- “Hãy rao giảng Lời Chúa! hãy lên tiếng, lúc thuận tiện cũng như lúc không thuận tiện!” (2 Tm 4,2).
2o) Thánh Phao-lô đã chấp nhận mọi hy sinh, gian khổ vì Chúa Giê-su Ki-tô và vì các giáo đoàn. Chúng ta hãy nghe những lời tâm sự thống thiết của Ngài:
* “Phần chúng tôi, chúng tôi chẳng làm gì gây cớ cho ai vấp phạm, để không người nào có thể đàm tiếu về công việc phục vụ của chúng tôi. Trái lại, trong mọi sự, chúng tôi luôn chứng tỏ mình là những thừa tác viên của Thiên Chúa: gian nan, khốn quẫn, lo âu, đòn vọt, tù tội, loạn ly, nhọc nhằn, vất vả, mất ăn mất ngủ, chúng tôi đều rất mực kiên trì chịu đựng. Chúng tôi còn chứng tỏ điều đó bằng cách ăn ở trong sạch, khôn khéo, nhẫn nhục, nhân hậu, bằng một tinh thần thánh thiện, một tình thương không giả dối, bằng lời chân lý, bằng sức mạnh của Thiên Chúa. Chúng tôi lấy sự công chính làm vũ khí tấn công và tự vệ, khi vinh cũng như khi nhục, lúc được tiếng tốt cũng như khi mang tiếng xấu. Bị coi là bịp bợm, nhưng kỳ thực chúng tôi chân thành; bị coi là vô danh tiểu tốt, nhưng kỳ thực chúng tôi được mọi người biết đến; bị coi là sắp chết, nhưng kỳ thực chúng tôi vẫn sống; coi như bị trừng phạt, nhưng kỳ thực không bị giết chết; coi như phải ưu phiền, nhưng kỳ thực chúng tôi luôn vui vẻ; coi như nghèotúng, nhưng kỳ thực chúng tôi làm cho bao người trở nên giàu có; coi như không có gì, nhưng kỳ thực chúng tôi có tất cả.” (2 Cr 6,3-10).
* «Họ là người Híp-ri ư? Tôi cũng vậy! Họ là người Ít-ra-en ư? Tôi cũng vậy! Họ là dòng giống Áp-ra-ham ư? Tôi cũng vậy! Họ là người phục vụ Đức Ki-tô ư? Tôi nói như người điên: tôi còn hơn họ nữa! Hơn nhiều vì công khó, hơn nhiều vì ở tù, hơn gấp bội vì chịu đòn, bao lần suýt chết. Năm lần tôi bị người Do Thái đánh bốn mươi roi bớt một; ba lần bị đánh đòn; một lần bị ném đá; ba lần bị đắm tàu; một đêm một ngày lênh đênh giữa biển khơi! Tôi còn hơn họ, vì phải thực hiện nhiều cuộc hành trình, gặp bao nguy hiểm trên sông, nguy hiểm do trộm cướp, nguy hiểm do đồng bào, nguy hiểm vì dân ngoại, nguy hiểm ở thành phố, trong sa mạc, ngoài biển khơi, nguy hiểm do những kẻ giả danh là anh em. Tôi còn phải vất vả mệt nhọc, thường phải thức đêm, bị đói khát, nhịn ăn nhịn uống và chịu rét mướt trần truồng. Không kể các điều khác, còn có nỗi ray rứt hằng ngày của tôi là mối bận tâm lo cho tất cả các Hội Thánh! Có ai yếu đuối mà tôi lại không cảm thấy mình yếu đuối? Có ai vấp ngã mà tôi lại không cảm thấy lòng sôi lên? » (2 Cr 11,22-29).
Những chuyến đi truyền giáo cũng như các thư ngài sẽ viêt cho các cộng đoàn và các cá nhân và cái chết tử đạo mà ngài sẽ chịu chứng minh cách hùng hồn cho chúng ta thấy đối với Thánh Phao-lô sống chính là truyền giáo hay ngược lại truyền giáo chính là cuộc sống của Ngài!
3.3 Động lực thúc đẩy Thánh Phao-lô lao mình vào Công Cuộc Truyền Giáo hay Loan Báo Tin Mừng Cứu Độ.
1o) Động lực đầu tiên và lớn nhất thúc đẩy Thánh Phao-lô lao mình vào Công Cuộc Truyền Giáo hay Loan Báo Tin Mừng là Tình yêu nồng nàn đối với Chúa Giê-su Ki-tô Phục Sinh, Đấng đã “chộp bắt” ngài trên đường Đa-mát.
Linh mục Giu-se Linh Tiến Khải, trong Đề Tài “Cuộc gặp gỡ đổi đời của Thánh Phao-lô với Chúa Ki-tô Phục Sinh” đã viết về tâm hồn Thánh Phao-lô như sau: “Sau cuộc gặp gỡ đổi đời với Chúa Ki-tô phục sinh, Thánh Phao-lô say mê Chúa Ki-tô chịu đóng đanh tới độ ông không còn trông thấy gì khác ngoài Chúa Ki-tô. Thánh Phao-lô coi tất cả mọi sự trên trần gian này là một mất mát và nhận chịu mất mát mọi sự, kể cả mạng sống mình, miễn là có thể đem mọi người về với Chúa Ki-tô (Pl 3,8-9). Nghĩa là Thánh Phao-lô đổi hướng đời mình 180 độ: từ chỗ tự mãn tưởng mình toàn năng, có thể tự cứu rỗi qua những gì mình làm, tới chỗ nhận rằng mình tùy thuộc và tín thác hoàn toàn nơi Chúa Ki-tô; từ thái độ tuân giữ luật lệ như nô lệ tới thái độ vâng phục của lòng tin.”
2o) Động lực thứ hai thúc đẩy Thánh Phao-lô lao mình vào Công Cuộc Truyền Giáo hay Loan Báo Tin Mừng là lòng yêu người tha thiết. Động lực thứ hai này gắn liền với động lực thứ nhất và xuất phát từ động lực ấy. Trong Tông huấn “Loan Báo Tin Mừng” - Evangelii Nuntiandi - (số 79) được ban hành năm 1975, Đức Thánh Cha Phao-lô VI nói về tâm hồn của Thánh Phao-lô như sau: “Mẫu gương Truyền Giáo là Tông Đồ Phao-lô đã viết những lời này trong thư gửi tín hữu Thê-xa-lô-ni-ca, và cũng là chương trình cho tất cả chúng ta: «Chúng tôi đã yêu mến anh em tha thiết, đến nỗi sẵn sàng chia sẻ với anh em, không những chỉ Tin Mừng của Thiên Chúa, mà cả chính mình chúng tôi, vì anh em đã trở nên rất thân yêu đối với chúng tôi’ (1 Tx 2,8). Tình yêu này là gì? Tình yêu ấy phải hơn tình yêu của một vị thầy; đó là tình yêu của một người cha; và cũng là tình yêu của một người mẹ. Đó chính là tình yêu mà Thiên Chúa mong mỏi nơi mỗi người rao giảng Tin Mừng, nơi mỗi người xây dựng Giáo Hội. Một dấu hiệu của tình yêu là quan tâm ban phát chân lý và đưa người ta đến hiệp nhất. Một dấu hiệu khác của tình yêu là lòng tận tụy rao giảng Đức Chúa Giê-su Ki-tô, mà không hạn chế hay quay đầu trở lại.»
3.4 Chiến thuật Truyền Giáo của Thánh Phao-lô.
Linh mục Giu-se Linh Tiến Khải cho rằng Thánh Phao-lô đã dùng những Chiến Thuật Truyền Giáo sau đây:
1o) Thứ nhất là Thánh Phao-lô chọn một thành phố lớn làm cứ điểm chính, rồi từ đó rao truyền Tin Mừng cho các vùng chung quanh. Điển hình là trường hợp thành Cô-rin-tô, nơi thánh nhân đã lưu lại truyền giáo từ năm 49 tới 52, và đặc biệt là thành Ê-phê-sô trong chuyến truyền giáo thứ hai giữa các năm 53 tới 57.
2o) Thứ hai là Thánh Phao-lô rao giảng cho người đồng hương trước: Việc len lỏi và hội nhập vào cuộc sống tại các thành phố này đã được dễ dàng chính là nhờ có các cộng đoàn Do Thái sinh sống tại đây. Nghĩa là Thánh Phao-lô đã sống giữa các người đồng hương trong cộng đoàn Do Thái hải ngoại, và rao giảng Tin Mừng cho họ trước tiên. Trong các hội đường Do Thái Thánh Phao-lô đã gặp rất nhiều người ngoại giáo có thiện cảm hay tân tín đồ Do Thái, và họ đã là những người đầu tiên theo Ki-tô giáo.
Trong sách Công vụ chương 19,8-10 Thánh sử Lu-ca cho chúng ta biết tại Ê-phê-sô, sau khi giảng dậy trong hội đường Do Thái ba tháng, Thánh Phao-lô đã chọn trường học của ông Ti-ran-nos làm nơi giảng dậy. Trong hai năm liên tiếp thánh nhân đã dùng phòng ốc trường học này để rao truyền Tin Mừng cho các anh chị em ngoại giáo, từ giờ thứ 5 tới giờ thứ 10, tức từ 11 giờ sáng cho tới 16 giờ chiều, là giờ trường ốc rảnh rỗi, vì dân chúng ăn trưa và nghỉ trưa.
3o) Thứ ba là Thánh Phao-lô thường chọn các nơi chưa có ai tới rao truyền Tin Mừng trước đó. Thánh Phao-lô và các cộng sự viên theo nguyên tắc không tới rao giảng tại những nơi đã có người rao truyền Chúa Giê-su rồi, để không quá hãnh diện vì kết quả đã do người khác nhọc công gieo vãi. Chính Thánh Phao-lô cho chúng ta biết trong Rm 15,20 và trong 2 Cr 10,12-18.
4o) Thứ bốn là tuy nhu cầu loan báo Tin Mừng Nước Trời khắp nơi cấp bách, Thánh Phao-lô đã không vội vã bỏ nơi này sang nơi khác. Trái lại, ngài dừng lại lâu trong thành phố này hay thành phố nọ, để củng cố cộng đoàn Ki-tô đã được thành lập ở đó và giúp cộng đoàn trưởng thành và tự lập chừng nào có thể.
5o) Thứ năm là dù công tác rao truyền Tin Mừng chắc chắn đã tốn kém không ít - vì Thánh Phao-lô phải thanh toán chi phí di chuyển, thuê phòng ốc để giảng dậy và tụ tập các tín hữu, cũng như cung cấp phương tiện sống cho chính mình và các cộng sự viên,- Thánh Phao-lô sống theo nguyên tắc “tự lực cánh sinh” hay “tay làm hàm nhai” (Tx 2,9 và 1 Cr 9,18).
6o) Thứ sáu là Thánh Phao-lô có các cộng sự viên và làm việc theo nhóm. Trong số các cộng sự viên đắc lực và thân tín nhất phải kể tới Si-la hay Sil-va-nô, Ti-mô-thê và Ti-tô. Dĩ nhiên Thánh Phao-lô luôn là người lãnh đạo và phối trí công tác truyền giảng Tin Mừng, nhưng thánh nhân rất trân trọng và quý mến các cộng sự viên của mình. Đó là lý do giải thích tại sao khi kể lại cho tín hữu nghe công tác truyền giáo Thánh Phao-lô dùng từ “chúng tôi” số nhiều (1 Tx; 2 Cr 1,19).
Đó chính là sáu (6) chiến thuật Truyền Giáo của Thánh Phao-lô mà chúng ta cần học tập.
3.5 Phương thế Truyền Giáo của Thánh Phao-lô:
1o) Chứng tá đời sống.
a) Mới đây tôi được nghe một linh mục già rất đáng kính kể lại câu chuyện này: Ở Hàn Quốc (tức Nam Hàn) đã có lúc có cuộc gia nhập Đạo Công Giáo một cách ồ ạt và tập thể, đến nỗi người Công Giáo không biết phải làm thế nào để giúp những người mới trở lại. Họ đành phải nói với những anh chị em tân tòng rằng: "Anh chị em cứ nhìn chúng tôi sống thế nào thì anh chị em bắt chước mà sống như thế." Người Công Giáo Hàn Quốc nói được như vậy quả là tuyệt vời! Vì không gì bằng gương sáng của một đời sống đức tin lành thánh, yêu thương, bác ái cụ thể mà người tân tòng cảm nhận được khi nhìn vào đời sống của anh chị em cựu tòng! Ước chi mỗi người Công Giáo Việt Nam chúng ta cũng nói được với anh chị em tân tòng và lương dân của mình như thế!
b) Trong Tông Huấn «Sứ vụ Đấng Cứu Độ» (số 42) Đức Thánh Cha Gio-an Phao-lô II đã biềt về chứng tá đời sống như sau:“Con người thời nay tin vào các chứng nhân hơn là các thầy dạy. Tin vào kinh nghiệm hơn là đạo lý, tin vào đời sống và các sự kiện hơn là các lý thuyết. Hình thức đầu tiên của việc truyền giáo là chứng tá đời sống Ki-tô hữu; hình thức này là điều không thể thay thế được. Chúa Ki-tô, Đấng mà chúng ta đang tiếp tục sứ mạng của Người, là “Vị Chứng Nhân” tuyệt hảo (Kh 1,5 ; 3,14) và là khuôn mẫu cho chứng tá Ki-tô giáo. Chúa Thánh Thần đang đồng hành với Giáo Hội trên bước đường của Giáo Hội, đồng thời liên kết Giáo Hội với lời chứng của Người về Chúa Ki-tô (Ga 15,26-27).
“Hình thức đầu tiên của chứng tá là chính đời sống của nhà truyền giáo, của gia đình Ki-tô hữu và của cộng đồng Giáo Hội, hình thức này làm cho người ta nhìn thấy một lối sống mới. Cho dù vẫn có giới hạn và bất toàn của con người, nhưng khi nhà truyền giáo chân thành sống theo gương Đức Ki-tô, thì họ là một dấn chỉ về Thiên Chúa và về những thực tại siêu việt. Tuy vậy. mọi người trong Giáo Hội, khi nỗ lực noi gương Thầy Chí Thánh, thì có thể và phải nêu lên chứng tá này; trong rất nhiều trường hợp, đây là cách thế duy nhất để truyền giáo.”
c) Nhìn vào đời sống của Thánh Phao-lô, chúng ta có thể nói Ngài đã thực hiện hoàn hảo những gì Đức Gio-an Phao-lô II đã viết ở trên. Ngài đã sống gắn bó với Thiên Chúa của tổ tiên, với Chúa Giê-su Ki-tô Cứu Chúa của nhân loại và với Chúa Thánh Thần là Thần Khí của Đấng Phục Sinh, ở một mức độ khó ai theo kịp. Cách sống, cách phục vụ, cách giảng dậy, cách viết, cách đi, cách chết của Ngài đều là những tấm gương sáng ngời.
2o) Tiếp xúc cá nhân.
a) Đọc lại các Sách Phúc Âm, chúng ta khám phá ra rằng Chúa Giê-su thường có những cuộc tiếp xúc cá nhân rất có ý nghĩa. Ví dụ:
* Chúa Giê-su tiếp xúc với Gio-an Tẩy Giả bên bờ sông Gióc-đan (Mt 3,13-15).
* Chúa Giê-su mời gọi bốn môn đệ đầu tiên đến sống với Người (Mt 4,18-22).
* Chúa Giê-su có buổi gặp gỡ trao đổi ban đêm với ông Ni-cô-đê-mô (Ga 3,1-21).
* Chúa Giê-su có cuộc trò chuyện đặc biệt với người phụ nữ Sa-ma-ri bên bờ giếng Gia-cóp (Ga 4,1-26).
b) Thánh Phao-lô cũng tìm mọi cơ hội để gặp gỡ người này người kia, nhóm này nhóm nọ như Thầy Giê-su. Sau đây là một đoạn của Sách Tông Đồ Công Vụ nói về việc Thánh Phao-lô tiếp xúc cá nhân với những người Ngài muốn tiếp xúc và lôi kéo về với Thiên Chúa: "Khi tới Giê-ru-sa-lem, ông Sao-lô tìm cách nhập đoàn với các môn đệ. Nhưng mọi người vẫn còn sợ ông, vì họ không tin ông là một môn đệ. Ông Ba-na-ba liền đứng ra bảo lãnh đưa ông Sao-lô đến gặp các Tông Đồ, và tường thuật cho các ông nghe chuyện ông ấy được thấy Chúa hiện ra trên đường và phán dạy làm sao, cũng như việc ông ấy đã mạnh dạn rao giảng nhân danh Đức Giê-su tại Đa-mát thế nào. Từ đó ông Sao-lô cùng với các Tông Đồ đi lại hoạt động tại Giê-ru-sa-lem. Ông mạnh dạn rao giảng nhân danh Chúa. Ông thường đàm đạo và tranh luận với những người Do Thái theo văn hóa Hy Lạp. Nhưng họ tìm cách giết ông. Các anh em biết thế, liền dẫn ông xuống Xê-da-rê và tiễn ông lên đường về Tác-xô." (Cv 9, 26- 30).
3o) Giảng và dậy.
a) Trong Tông Huấn «Loan Báo Tin Mừng » (số 44) Đức Giáo Hoàng Phao-lô VI viết về việc giảng dậy và học hỏi Giáo Lý như sau: "Một cách truyền giáo (loan báo Tin Mừng) không thể bị xem nhẹ là việc giảng dậy và học hỏi giáo lý. Trí khôn, nhất là của trẻ em và người trẻ, cần được học hỏi - thông qua việc giảng dạy và học hỏi một cách có hệ thống - những giáo huấn căn bản là nội dung sống động của chân lý mà Thiên Chúa đã muốn đem đến cho chúng ta, và Giáo Hội đã diễn tả một cách phong phú trong dòng lịch sử lâu dài. Không ai chối cãi được rằng việc giảng dậy và học hỏi này cần được tổ chức bằng những hình thái cụ thể của đời sống Kitô hữu và không chỉ ở trong ý niệm mà thôi. Thật ra nỗ lực truyền giáo sẽ được hưởng lợi rất nhiều - trong các lớp giáo lý ở nhà thờ, hay ở trường học (những nơi có thể thực hiện được) và trong mọi trường hợp là ở trong gia đình người Ki-tô hữu - nếu những người dạy giáo lý có được những bản văn thích hợp và được cập nhật với sự khôn ngoan và chuyên môn, dưới quyền giảng dạy của các Giám Mục. Các phương pháp phải được thích nghi với lứa tuổi, nền văn hóa và thái độ của những người liên hệ. Các phương pháp luôn phải tìm cách ghi sâu vào trí nhớ, trí hiểu và tâm hồn những chân lý cơ bản là những chân lý phải thâm nhập vào toàn bộ cuộc sống. Trước hết cần phải chuẩn bị cho có những nhà giáo dục tốt - giáo lý viên của giáo xứ, thày cô giáo, các người làm cha làm mẹ là những người ao ước chính họ trở nên hoàn thiện trong nghệ thuật cao trọng này - là điều hết sức cần thiết và đòi hỏi phải có học hỏi về tôn giáo. Hơn nữa không được xem thường bất kỳ phương pháp huấn luyện trẻ thơ nào, nhất là trong hoàn cảnh hiện nay là lúc việc giảng dậy giáo lý đã trở nên cấp bách, dưới hình thái các lớp giáo lý, cho rất nhiều người trẻ và người trưởng thành, là những người một khi được tác động bởi ơn thánh, sẽ dần dần khám phá ra dung mạo của Chúa Ki-tô và cảm thấy nhu cầu phải hiến thân cho Người.”
b) Trong lãnh vực giảng dậy Giáo Lý Tin Mừng của Chúa Ki-tô và của Đạo Thánh Chúa, cũng ít ai bì kịp Thánh Phao-lô, một biệt phái xuất chúng đã được Chúa Ki-tô dùng như công cụ tinh xảo của công cuộc Loan Báo Tin Mừng. Nhưng với tài năng thiên phú và đặc sủng của Thần Khí, Thánh Phao-lô không chỉ nhiệt thành trong việc giảng dậy Giáo Lý mà còn đào sâu và quảng diễn cách dễ hiểu các Mầu Nhiệm cao siêu của Ki-tô giáo (cứu độ, nhập thể, thương khó, phục sinh của Chúa Ki-tô, Hội Thánh là Thân Thể Chúa, ơn công chính hóa, đức ái v.v...).
4o) Xây dựng các cộng đoàn Ki-tô hữu.
a) Công đồng Va-ti-ca-nô II dậy về việc xây dựng các cộng đoàn Ki-tô giáo như sau: “Chúa Thánh Thần là Ðấng kêu gọi mọi người đến với Chúa Ki-tô và thúc đẩy tâm hồn họ vâng phục đức tin nhờ hạt giống Lời Chúa và việc rao giảng Phúc âm. Chính khi Ngài sinh những kẻ tin Chúa Kitô trong lòng Giếng Rửa Tội để sống đời sống mới, Ngài tập hợp họ thành một Dân Chúa duy nhất. Dân này là “dòng giống được tuyển chọn, hàng tư tế vương giả, dân tộc thánh thiện, dân được Thiên Chúa thu phục” (1 Pr 2.9; Công Ðồng Va-ti-ca-nô II, Sắc Lệnh về Hoạt Ðộng Truyền Giáo của Giáo Hội, số 15; Hiến Chế Tín Lý về Giáo Hội, số 9).
“Vậy các nhà Truyền Giáo như những cộng tác viên của Thiên Chúa (1 Cr 3,9), phải gây dựng những cộng đoàn tín hữu sao cho họ biết sống xứng đáng ơn gọi của mình (Ep 4,1), để họ có thể thi hành những chúc vụ đã được Chúa trao phó cho họ: đó là chức vụ tư tế, ngôn sứ và vương giả. Nhờ cách đó, Cộng Ðoàn Ki-tô hữu trở thành dấu chỉ nói lên sự hiện diện của Thiên Chúa nơi trần gian: thật vậy, nhờ Hiến Tế Thánh Thể, họ luôn được cùng Chúa Ki-tô vươn đến Chúa Cha (Hiến Chế Tín Lý về Giáo Hội, số 10,11.34), và khi đã được nuôi dưỡng cẩn thận bằng Lời Chúa (5), họ làm chứng về Chúa Ki-tô (Hiến Chế Tín Lý về Giáo Hội, số 12, 35), và sau cùng dấn bước vào tình bác ái và được hun đúc trong tinh thần tông đồ” (…..).
“Ngoài ra, để gieo trồng Giáo Hội và phát triển Cộng Ðoàn Ki-tô giáo, cần phải có nhiều thừa tác vụ khác nhau; những thừa tác vụ này một khi được ơn Chúa gọi khiến nẩy sinh từ chính Cộng Ðoàn tín hữu, phải được mọi người đặc biệt chăm lo cổ võ và vun trồng. Trong những thừa tác vụ đó, có chức vụ linh mục, phó tế và giảng viên giáo lý cũng như Công Giáo Tiến Hành” (Hiến Chế Tín Lý về Giáo Hội, số 23, 36; Sắc Lệnh về Hoạt Ðộng Truyền Giáo của Giáo Hội, số 15).
b) Thánh Phao-lô đã đi đầy đi đó không chỉ là để rao giảng về Chúa Giê-su Ki-tô bị đóng đinh và là nguồn ơn cứu độ mà còn để xây dựng các cộng đoàn ở Ga-lát, ở Cô-rin-tô, ở Thê-xa-lô-ni-ca, ở Ê-phê-xô. Thánh Phao-lô x6ay dựng các cộng đoàn ấy bằng sự giảng dậy, tổ chức, nhắc nhở, sửa dậy khi có mặt cũng như từ xa qua những bức thư, nhất là các thư mục vụ.
5o) Dùng ngôn ngữ thông dụng là tiếng Hy Lạp trong rao giảng Tin Mừng và giảng dậy Giáo Lý.
Trong thời của Thánh Phao-lô, ngôn ngữ Hy Lạp là ngôn ngữ phổ thông vì văn hóa Hy Lạp đang thống trị các cộng đồng chung quanh vùng Địa Trung Hải. Vì thế Thánh Phao-lô đã dùng ngôn ngữ phổ biến này mà chuyển tải nội dung Tin Mừng dến cho mọi người, Hy Lạp cũng như Do Thái (bị Hy Lạp hóa).
6o) Hội nhập văn hóa để rao giảng Tin Mừng và giảng dậy Giáo Lý:
a) Công Ðồng Va-ti-ca-nô II đã dành cả chương 2 của Hiến Chế Giáo Hội trong thế giới ngày nay (Gaudium et Spes) để đề cập tới việc phát triển văn hóa:
"Ðặc điểm của con người là chỉ đạt tới nhân tính đích thực và trọn vẹn nhờ văn hóa, nghĩa là nhờ trau dồi những ưu phẩm và giá trị của căn tính. Vì vậy, mỗi khi đề cập đến cuộc sống nhân loại, căn tính và văn hoá liên kết với nhau hết sức chặt chẽ."
Theo nghĩa tổng quát, chữ "văn hóa" chỉ tất cả những gì con người dùng để trau dồi và phát triển các năng khiếu đa diện của tâm hồn và thể xác; cố gắng chế ngự cả trái đất bằng trí thức và lao động; làm cho đời sống xã hội, đời sống gia đình, cũng như đời sống chính trị, trở thành nhân đạo hơn, nhờ sự tiến bộ trong các tập tục và định chế sau hết, diễn tả, thông truyền và bảo tồn trong các công trình của mình, những kinh nghiệm tinh thần và hoài bão lớn lao của các thời đại, để giúp cho nhiều người và toàn thể nhân loại tiến bộ hơn." (#53)
b) Trong Tông Huấn về Dạy Giáo Lý trong thế giới ngày nay (Catechesi Tradendae) được ban hành ngày 16.10. 1979, Ðức Thánh Cha Gio-an Phao-lô II đã dùng tiếng "hội nhập văn hóa" (inculturation). Ðây là lần đầu tiên từ ngữ này được dùng trong một văn kiện Tông huấn. Ngài viết:
"Hội nhập văn hóa diễn tả rất đúng yếu tố mầu nhiệm Nhập Thể. Chúng ta có thể nói về giáo lý cũng như truyền giáo, là được kêu mời mang sức mạnh của Tin Mừng vào chính tâm điểm của văn hóa và các nền văn hóa. Vì thế, giáo lý phải tìm hiểu những nền văn hóa này và những cấu trúc của văn hóa; phải học những cách diễn tả, và kính trọng những gía trị sâu xa của họ.... Tin Mừng không thể tách lìa nền văn hóa đang hội nhập, giống như Kinh Thánh đã hội nhập môi trường, và cụ thể hơn, Chúa Giê-su thành Na-da-ret cũng đã hội nhập môi trường văn hóa của Ngài, cũng như Tin Mừng vẫn tiếp tục hội nhập văn hóa qua các thế kỷ" (#53).
"Tuy nhiên cũng với khôn ngoan thận trọng, phải biết dùng một số những yếu tố tôn giáo hay không tôn giáo, đã có sẵn trong gia tài văn hóa dân tộc, mà giúp hiểu hơn toàn bộ mầu nhiệm Ki-tô. Giảng viên giáo lý chân chính nên biết rằng giáo lý phải "mang thân xác" trong các nền văn hóa và môi trường khác nhau...." (#53).
Tông Huấn về Truyền Giáo "Sứ Vụ Ðấng Cứu Thế" (Redemptoris Missio) ngày 07.12.1990, một lần nữa nhắc lại: "Tiến trình hội nhập Tin Mừng vào văn hóa các dân tộc là một tiến trình dài. Không phải chỉ lo thích nghi một số điểm bề ngoài, mà phải có nghĩa biến thể sâu xa trong những giá trị văn hóa đích thực, qua việc hòa nhập vào Ki-tô giáo, và hội nhập Ki-tô giáo vào các nền văn hóa."
c) Thánh Phao-lô đã hiểu tầm quan trọng của việc hội nhập văn hóa và đã thực hiện ở một mức độ cao vời. Chúng ta hãy nghe Ngài chia sẻ:
«Phải, tôi là một người tự do, không lệ thuộc vào ai, nhưng tôi đã trở thành nô lệ của mọi người, hầu chinh phục thêm được nhiều người. Với người Do Thái, tôi đã trở nên Do Thái, để chinh phục người Do Thái. Với những ai sống theo Lề Luật, tôi đã trở nên người sống theo Lề Luật, dù không còn phải sống theo Lề Luật nữa, để chinh phục những người sống theo Lề Luật. Đối với những kẻ sống ngoài Lề Luật, tôi đã trở nên người sống ngoài Lề Luật, dù tôi không sống ngoài luật Thiên Chúa, nhưng sống trong luật Đức Ki-tô, để chinh phục những người sống ngoài Lề Luật. Tôi đã trở nên yếu với những người yếu, để chinh phục những người yếu. Tôi đã trở nên tất cả cho mọi người, để bằng mọi cách cứu được một số người. Vì Tin Mừng, tôi làm tất cả những điều đó, để cùng được thông chia phần phúc của Tin Mừng.» (1 Cr 9,19-23).
7o) Viết Thư cho các cộng đoàn và cá nhân.
a) Thư tín là một hình thức tông đồ mục vụ. Thánh Phao-lô trở lại khoảng năm 33 sau Công Nguyên và bị tử hình vào khoảng năm 64 Công Nguyên Thánh Phao-lô có 31 làm hoạt động từ khi biết Chúa. Từ năm 33-46 kể từ cuộc Trở Lại là quãng thời gian lặng lẽ và hoạt động âm thầm của Phao-lô. Từ năm 46 đến năm 64 trước khi ngài bị tử hình là 4 hành trình vĩ đại của Thánh Phao-lô. Xen giữa những cuộc hành trình, Thánh Phao-lô đã viết những bức thư gửi các giáo đoàn và các cá nhân.
Các Thư của Thánh Phao-lô được viết vào thời gian và tại các nơi khác nhau như sau:
Thư Ga-lát (49) từ Ma-kê-đô-ni-a
Thư 1 Thê-xa-lô-ni-ca (50) từ A-ten
Thư 2 Thê-xa-lô-ni-ca (51) từ Cô-rin-tô
Thư 1 Cô-rin-tô (54-55) từ Ê-phê-xô (có thể viết từ trong tù)
Thư 2 Cô-rin-tô (56) từ Ma-kê-đô-ni-a
Thư Rô-ma (57) từ Cô-rin-tô
Thư trong tù:
Thư Cô-lô-xê (57-60) từ Xê-sa-rê
Thư Ê-phê-xô từ Xê-sa-rê
Thư Phi-lê-môn từ Xê-sa-rê
Thư Thư Phi-líp-phê (61-62) từ Rô-ma
Thư mục vụ: 1 Ti-mô-thê (63-64) từ Ma-kê-đô-ni-a
Thư Ti-tô (63-64) từ Ni-cô-pô-lít
Thư 2 Ti-mô-thê (64) từ Rô-ma
b) Về các Thư trên của Thánh Phao-lô thì chúng ta phải dành rất nhiều thời gian để khám phá nội dung giáo lý phong phú và sâu sắc mà Thánh Tông Đồ trình bày trong đó.
8o) Các chuyến đi (hay hành trình) Truyền Giáo.
Xuất phát từ tình yêu đối với Chúa Giê-su Ki-tô và với con người mà Thánh Phao-lô đã thực hiện 3 Hành Trình Truyền Giáo phi thường. Linh mục Giu-se Linh Tiến Khải viết đề tài “Thánh Phao-lô, nhà Truyền Giáo thời danh của Giáo Hội Ki-tô tiên khởi” như sau:
“Có thể chia hoạt động truyền giáo của Phao-lô thành ba giai đoạn chính:
Giai đoạn thứ nhất khá tối tăm, bắt đầu từ lúc hoán cải cho tới lúc gia nhập cộng đoàn An-ti-ô-ki-a bên Sy-ri-a. Giai đoạn thứ hai bao gồm các hoạt động rao giảng Tin Mừng tại An-ti-ô-ki-a, cứ điểm truyền giáo đầu tiên, nơi Phao-lô đã trở thành nhân vật nổi bật, và sau đó được cộng đoàn đề cử đem Tin Mừng tới cho các anh chị em ngoài Do Thái giáo.
Giai đoạn thứ ba là giai đoạn truyền giáo độc lập. Phao-lô bôn ba ngang dọc, giảng đạo trong vùng Tiểu Á và bên Hy Lạp, thành lập nhiều cộng đoàn Ki-tô đia phương. Đặc biệt trong giai đoạn này Phao-lô trở thành một nhân vật rất có uy tín trong các giáo đoàn nói tiếng Hy Lạp, và hoàn toàn độc lập đối với truyền thống văn hóa và tôn giáo Do Thái.
“Chúng ta có ít tin tức liên quan tới giai đoạn truyền giáo thứ nhất. Sách Cv chương 9 cho biết sau cuộc gặp gỡ đổi đời với Chúa Ki-tô Phục Sinh trên đường tới Đa-mát, Phao-lô bị mù mắt và được các người đồng hành dẫn vào thành. Chúa Ki-tô sai Kha-na-ni-a, một Ki-tô hữu của cộng đoàn Ki-tô Đa-mát, tới gặp Phao-lô để đặt tay cho ông sáng mắt. Phao-lô được tràn đầy Chúa Thánh Thần và lãnh nhận phép rửa tội, rồi lưu lại với các Ki-tô hữu Đa-mát vài ngày.
“Sau đó Phao-lô bắt đầu công khai rao giảng Chúa Ki-tô Phục Sinh trong các hội đường Do Thái tại Đa-mát và vùng đông nam Đa-mát (Gl 1,17). Phao-lô trưng dẫn các lý chứng vững vàng cho thấy Đức Giê-su là Đấng Cứu Thế, khiến cho người Do Thái tức giận lập mưu hạ sát ông. Họ cho người canh giữ cửa thành nghiêm ngặt. Nhưng đang đêm các Ki-tô hữu có nhà xây trên tường thành giúp Phao-lô trốn thoát, bằng cách bỏ Phao-lô vào thúng và thòng xuống bên ngoài tường thành. Sau này thánh nhân cũng nhắc lại các chống đối gặp phải và lần chết hụt thứ nhất này trong chương 11,32-33 thư thứ hai gửi tín hữu Cô-rin-tô.
“Từ Đa-mát Phao-lô về Giê-ru-sa-lem và lưu lại đây một thời gian ngắn để làm quen với Kê-pha, tức Phê-rô, rồi sau đó sang Sy-ri-a và Xi-li-ci-a, miền nam Thổ Nhĩ Kỳ ngày nay, như thánh nhân viết trong thư gửi tín hữu Ga-lát (1,21). Vài nét chấm phá ấy tóm gọn các sinh hoạt của 15 năm trời kể từ biến cố bị đánh ngã trên đường đi Đa-mát. Sách Tông đồ Công Vụ cũng không thêm chi tiết nào mới mẻ.
“Tuy nhiên cả hai tài liệu đều cho biết Phao-lô đã gặp khó khăn trong cố gắng làm quen và sát nhập vào cộng đoàn. Ki-tô hữu Giê-ru-sa-lem chẳng những không quen biết Phao-lô mà còn tỏ ra nghi ngờ đối với ông (Gl 1,22; Cv 9,26-30). Qua đó chúng ta có thể kết luận rằng Phao-lô đã không gặt hái nhiều thành công trong thời gian hoạt động này.
“Giai đoạn truyền giáo thứ hai có nhiều tin tức hơn. Chương 11 sách Công Vụ cho biết Bar-na-ba, là nhân vật nổi bật của Ki-tô giáo thời khai sinh, đã giới thiệu Phao-lô với giáo đoàn An-ti-ô-ki-a bên Sy-ri-a (Cv 11,25). An-ti-ô-ki-a là thủ phủ của vùng này và là thành phố lớn vào hàng thứ ba của Đế quốc Ro-ma thời đó, nghĩa là chỉ sau Ro-ma và A-léc-xan-dri-a bên Ai Cập.
“Trong lịch sử Giáo Hội và lịch sử truyền giáo, An-ti-ô-ki-a có địa vị quan trọng và ý nghĩa, vì là cứ điểm truyền giáo rộng lớn đầu tiên, nơi các môn đệ chọn làm bản doanh cho công tác rao truyền Tin Mừng cho dân ngoại (Cv 11,19 tt.), và cũng là nơi lần đầu tiên các môn đệ Chúa Giê-su được gọi là Ki-tô hữu (Cv 11,26). Giáo đoàn An-ti-ô-ki-a là giáo đoàn hỗn hợp gồm các Ki-tô hữu gốc Do Thái và không Do Thái. Phao-lô đã hoạt động tại đây trong vòng một năm (Cv 11,26), và được giáo đoàn sai phái cùng với Bar-na-ba đi truyền giáo tại đảo Xýp và các vùng đông nam của Tiểu Á, như trình thuật trong hai chương 13-14 sách Công Vụ.
“Qua chương 2 thư gửi tín hữu Ga-lát chúng ta biết được rằng Phao-lô cộng tác với Bar-na-ba, là thành phần của cộng đoàn Ki-tô An-ti-ô-ki-a và gặt hái thành quả tốt trong công tác rao truyền Tin Mừng cho các anh chị em ngoài Do Thái giáo. Tuy nhiên, chẳng bao lâu sau nảy sinh ra một vấn nạn trầm trọng liên quan tới việc gia nhập đạo của các người ngoài Do Thái giáo. Để trở thành Ki-tô hữu họ phải theo các điều kiện nào: chấp nhận tin vào Chúa Giê-su và Tin Mừng của Ngài là đủ, hay phải tuân giữ luật cắt bì của Do Thái giáo nữa?
“Phao-lô không phải là người đầu tiên khai mào công tác truyền giáo trong thế giới không Do Thái. Trước ông đã có một nhóm các Ki-tô hữu gốc Do Thái nói tiếng Hy Lạp rao giảng Tin Mừng và thành lập cộng đoàn An-ti-ô-ki-a. Nhưng khi từ một thói quen mục vụ truyền giáo bước sang việc thảo luận trên bình diện thần học, tức liên quan tới nguyên tắc do nhóm bảo thủ gồm các Ki-tô hữu gốc Do Thái đặt ra, Phao-lô đã tỏ ra là người có hành động sáng suốt và trung thực nhất theo tinh thần Tin Mừng giải phóng của Chúa Ki-tô.
“Phao-lô bênh vực sự tự do của các anh chị em ngoài Do Thái đối với luật lệ của Do Thái giáo, mà các Ki-tô hữu gốc Do Thái vẫn tuân giữ. Cuộc tranh luận đã sôi nổi tới độ giới lãnh đạo Giáo Hội đã phải triệu tập hội nghị tại Giê-ru-sa-lem để thảo luận và nghiên cứu vấn đề, như trình thuật trong chương 15 sách Công Vụ, và trong chương 2 thư gửi tín hữu Ga-lát. Hội nghị Giê-ru-sa-lem đã là Công Đồng Chung đầu tiên trong lịch sử Ki-tô giáo.
“Bar-na-ba và Phao-lô cùng với hai nhân vật khác của giáo đoàn An-ti-ô-ki-a đại diện cho phe cởi mở của cộng đoàn này tham dự Công Đồng. Sau khi nghe Bar-na-ba và Phao-lô trình bày và thảo luận phải trái trong Công Cồng, giới lãnh đạo Giáo Hội Ki-tô tiên khởi đã chấp nhận nguyên tắc tự do của các Ki-tô hữu ngoài Do Thái. Hàng lãnh đạo cộng đoàn Ki-tô Giê-ru-sa-lem thỏa thuận với phái đoàn đại diện giáo đoàn An-ti-ô-ki-a, và phân chia công tác truyền giáo.
“Trong Gl 2,9 Thánh Phao-lô viết: “Sau khi thừa nhận đặc sủng mà Thiên Chúa đã trao phó cho tôi, Gia-cô-bê, Kê-pha và Gio-an đã giơ tay phải bắt tay tôi tỏ tình liên đới để chúng tôi đi truyền giáo cho dân ngoại còn họ đi truyền giáo cho các anh chị em được cắt bì”, tức tín hữu Do Thái.”
“Sau vụ đụng độ công khai với Thánh Phê-rô ở An-ti-ô-ki-a (Gl 2), Phao-lô tách rời, không đi truyền giáo với Bar-na-ba nữa, mà hoạt động một cách độc lập với giáo đoàn An-ti-ô-ki-a. Phao-lô trở thành tông đồ của Chúa Ki-tô, và không phải tường trình với ai về công tác truyền giáo của mình, như thánh nhân viết trong 1 Cr 4,4.”
3.4 Chúng ta có thể học được gì từ Thánh Phao-lô là Nhà Truyền Giáo nhiệt thành, là Vị Tông Đồ Dân Ngoại vĩ đại của Ki-tô giáo?
a) Chúng ta có thể học được nhiều điều bổ ích từ Thánh Phao-lô vì Ngài là:
1°) Một con người sống gắn bó mật thiết với Chúa Giê-su Ki-tô Phục Sinh: “Tôi sống, nhưng không còn là tôi mà là Chúa Ki-tô sống trong tôi” (Gl 2,20).
2°) Một tông đồ nhiệt thành, đầy tài năng và sáng kiến trong/dưới bàn tay của Thần Khí Thiên Chúa.
3°) Một chiến sĩ Phúc âm chấp nhận mọi hy sinh, gian khổ, ngục tù, thậm chi cả cái chết vì Tin Mừng.
4°) Một mục tử và một vị lãnh đạo cộng đoàn gương mẫu.
b) Mỗi anh chị em chúng ta cần rèn luyện và cầu xin Ơn Trên để
* có được:
1°) Một đời sống nội tâm sâu sắc, gắn bó mật thiết với Chúa Giê-su Ki-tô.
2°) Một tình yêu nồng nàn đối với Chúa Giê-su Ki-tô Phục Sinh và với tha nhân, nhất là với những người chưa biết Chúa.
3°) Một tấm lòng cởi mở, dễ bảo dễ dậy đối với Chúa Thánh Thần.
* và trở thành:
1°) Một tông đồ nhiệt thành và có khả năng.
2°) Một chiến sĩ Phúc âm chấp nhận hy sinh, gian khổ, mất mát vì Phúc Âm và lợi ích các linh hồn.
3°) Một tôi tớ phục vụ cộng đoàn và cán bộ giáo dân guơng mẫu, theo tinh thần của Chúa Ki-tô và của Thánh Phao-lô!
IV. THẢO LUẬN NHÓM
4.1 Mỗi năm, giáo xứ của các anh chị đón nhận được bao nhiêu tân tòng gia nhập cộng đoàn đức tin của mình?
Giáo xứ đã đào tạo, huấn luyện và đồng hành với những anh chị em tân tòng ấy như thế nào? kết quả ra sao?
[Ghi chú: Hiểu tân tòng là người trưởng thành lãnh nhận Phép Rửa gia nhập Hội Thánh]
4.2 Truyền giáo thì phải có nhân sự. Giáo xứ/Hội đồng Mục Vụ Giáo xứ của các anh chị có quan tâm đến việc đào tạo nhân sự truyền giáo không? Giáo xứ/Hội đồng Mục Vụ Giáo xứ của các anh chị thể hiện sự quan tâm ấy như thế nào, bằng các biện pháp/phương thế nào?
4.3 Để đẩy mạnh Công Cuộc Truyền Giáo tại các địa phương, trong Năm Thánh 2010 của Giáo Hội Việt Nam, anh chị thấy Giáo Xứ, Giáo Phận nhà cần làm gì hơn nữa ?
4.4 Mỗi giáo dân nói chung và mỗi thành viên Hội Đồng Mục Vụ Giáo Xứ nói riêng phải làm những gì để trở thành một tông đồ truyền giáo trong các môi trường sống của mình?
V. CẦU NGUYỆN KẾT THÚC
5.1 Gợi ý của người hướng dẫn:
Chúng ta vừa học hỏi, chia sẻ về Công Cuộc, Chiến Thuật và Phương Thế Truyền Giáo của Thánh Phao-lô, qua đó chúng ta thấy Thánh Phao-lô đã đóng góp chẳng những tài năng trí tuệ mà cả tấm lòng và mồ hôi xương máu của mình cho Tin Mừng của Chúa Giê-su Ki-tô được nhiều lương dân và anh chị em Do Thái đón nhận. Chúng ta cũng có trách nhiệm đem hết mọi khả năng và ân sủng - là những nén vàng, nén bạc mà Thiên Chúa đã ban cho chúng ta – ra phục vụ việc đem Tin Mừng Cứu Độ đến cho những người đang khao khát Chúa. Chúng ta hãy cùng cảm tạ, ngợi khen và chúc tụng Thiên Chúa về sứ mạng cao cả của chúng ta là làm Chứng Nhân Tình Yêu và hãy quyết tâm sống đúng chức danh là “Chứng Nhân Tình Yêu” trong môi trường sống ngày hôm nay. Hợp ý và hợp lời ca chúng ta cùng cầu nguyện và cùng hát bài “Chứng Nhân Tình Yêu.”
5.2 Cùng cầu nguyện:
Lạy Thiên Chúa là Cha của Chúa Giê-su Ki-tô và là Cha của chúng con, chúng con cảm tạ ngợi khen và chúc tụng Cha vì Cha đã làm nên một Phao-lô vĩ đại cho Hội Thánh. Chúng con cần học gương Thánh Tông Đồ Dân Ngoại, để làm chứng cho Tình Yêu và Tin Mừng Cứu Độ mà Cha đã mạc khải qua/nơi Chúa Giê-su Ki-tô Con Cha, Chúa chúng con. Chúng con xin vì Danh Đấng Chí Thánh là Con Yêu Dấu của Cha. Amen!
5.3 Cùng hát: CHỨNG NHÂN TÌNH YÊU
PK 1: Khi con nghe tiếng kêu mời gọi con đi gieo niềm tin mới. Con nay như thấy ngỡ ngàng vì Chúa đã đoái thương chọn con. Rồi một ngày Thánh Thần Chúa đã đến thánh hiến con cho Ngài sai con đi khắp mọi nơi rắc gieo tin vui cho muôn người.
ĐK: Này đây Chúa ơi con hiến dâng cho Ngài, niềm tin tâm tư cùng trái tim nồng cháy. Từ đây hăng say theo bước chân của Ngài trung kiên làm chứng nhân Nước Trời thắp lên hạnh phúc cho muôn người.
PK 2: Xin cho con suốt một tình yêu cho đi là lẽ sống. Xin cho con biết trung thành hoàn tất những bước chân đẹp xinh. Nguyện một đời con tìm đến, đến với hết những ai chân tình, để tình người mãi còn xanh ngát hương như hoa xuân trên cành.
Giêrônimô Nguyễn Văn Nội
TpHCM Ngày Khánh Nhật Truyền Giáo
(18.10.2009)
Trở về trang mục lục Câu Chuyện Truyền Giáo
