Nhà thờ THIÊN CHÚA GIÁO ở HỘI AN
và sự ra đời CHỮ QUỐC NGỮ
Tống Quốc Hưng – Võ Hồng Việt (*)

Nhà thờ Thiên Chúa Giáo ở Hội An tọa lạc tại số 2 đường Nguyễn Trường Tộ
(Église de Hoi An - Hoi An Catholic Church) là một di tích thể hiện rõ nét
mối quan hệ giao lưu văn hóa Đông – Tây trong lịch sử,
góp phần tạo nên một mảng màu mới trong bức tranh của phố cổ Hội An.
Từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XIX, Hội An (FaÏfo) là một trong những trung tâm kinh tế lớn của Đàng Trong, một thương cảnh quốc tế khá phồn thịnh. Từ giữa thế kỷ XVI, các thương nhân châu Âu đã đến Hội An buôn bán, trong đó các thương nhân Bồ Đào Nha là những người đến sớm nhất (1540). Theo chân những thương nhân phương Tây bao giờ cũng là các giáo sĩ Thiên Chúa Giáo. Tuy nhiên, trước thế kỷ XVI, từ năm 1318 đến năm 1324, một số giáo sĩ phương Tây đang truyền giáo tại Trung Hoa, trong đó có Odoric De Pordeone, đã ghé thăm vương quốc Champa với mục đích tìm kiếm mảnh đất mới để gieo hạt giống Tin Mừng. Công cuộc truyền giáo ở Hội An và Đàng Trong vào thế kỷ XVI không được sử sách ghi lại và có lẽ kết quả đạt được cũng chẳng là bao vì các nhà truyền giáo theo từng chuyến tàu buôn đến đàng trong để truyền giáo và không am hiểu ngôn ngữ của người bản xứ. Năm 1523, giáo sĩ Duark Coelh đến vùng biển Hội An, đã tạc lên đảo Cù Lao Chàm một hình Thánh Giá lớn. Từ thế kỷ XVII, hoạt động truyền giáo tại Hội An nói riêng và Đàng Trong nói chung gặt hái nhiều kết quả tốt đẹp.
Năm 1567, người Nhật và người Trung Hoa đến buôn bán chính thức ở Hội An. Được các chúa Nguyễn cho phép, người Nhật và người Trung Hoa đã xây dựng ở Hội An hai thành phố cho cộng đồng của mình như mô tả của Cristoforo Borri và Thích Đại Sán. Năm 1614, chính quyền Nhật thực hiện chính sách cấm đạo và trục xuất giáo sĩ nên rất nhiều giáo dân Nhật Bản đến Hội An và Tòa Giám Mục Macao cũng chuyển hướng truyền giáo sang Việt Nam để giúp đỡ các giáo dân Nhật về mặt tinh thần và tìm kiếm mảnh đất mới để rao giảng Tin Mừng. Năm 1615, Tòa Giám mục Macao cử đến Hội An một phái đoàn Dòng Tên để lập ra giáo đoàn Đàng Trong. Phái đoàn này gồm có giáo sĩ Francesco Bozomi, Diego Carvalho và 3 tu sĩ, trong đó có 2 tu sĩ người Nhật. Phái đoàn đặt chân lên Đà Nẵng ngày 18.1.1615 và lập ở đây ngôi nhà thờ đầu tiên, sau đó vào Hội An – Thanh Chiêm. Đến ngày lễ Phục sinh (đầu tháng 4 năm 1615), phái đoàn truyền giáo rửa tội cho 10 giáo dân đầu tiên, sau đó trong gần một năm có hơn 300 người theo đạo và các giáo sĩ xây dựng ngôi nhà thờ thứ hai ở Thủ phủ dinh (Thanh Chiêm). Hội An đã trở thành điểm đến, nơi lưu trú, giảng đạo của các giáo sĩ nước ngoài suốt một thời gian dài.
Theo Hội An Công giáo (Tài liệu kỷ niệm 385 năm giáo xứ Hội An), Giáo xứ Hội An được thành lập vào năm 1615 bởi các giáo sĩ Bozomi, Carvalho và các thầy dòng. Trong thời gian từ năm 1615 đến năm 1665, ở Hội An có 3 cộng đoàn Công giáo: cộng đoàn người Nhật có nhà nguyện tại địa điểm bây giờ là đình Cẩm Phô, cộng đoàn người Hoa có nhà nguyện ở đường Cantinaise cũ (?), còn cộng đoàn người Việt có nhà nguyện ở phường Sơn Phong. Năm 1643, trụ sở truyền giáo của các giáo sĩ ở Hội An là một trong hai trụ sở chính của giáo đoàn Đàng Trong. Trụ sở ở Hội An có nhà chung (nhà thờ) cho bổn đạo và nhà riêng cho giáo sĩ Alexandre de Rhodes và các thầy giảng. năm 1675, giáo sĩ Conrtaulin xây dựng một nhà thờ tại Hội An. Giữa thế kỷ XVII, một số giáo sĩ của Hội Truyền Giáo hải ngoại ở Pháp (Hội Thừa Sai Pháp – Hội Thừa Sai Paris) được cử đến Hội An. Người đầu tiên là giáo sĩ Louis Chevreuil (1644), sau đó là Lambret la Motte (1659-1679), Luy Laneun (1680-1682)… Những giáo sĩ Hội Thừa Sai Paris đã xây dựng ở Hội An trụ sở truyền giáo riêng bên cạnh trụ sở truyền giáo của các giáo sĩ Dòng Tên. Từ cuối thế kỷ XVII, cùng với những biến động về chính trị - xã hội, công cuộc truyền giáo bị gián đoạn, các nhà thờ đều hoang phế. Năm 1914, một số giáo dân quy tụ về Hội An, xây dựng nhà nguyện mới bằng tranh và gỗ tại địa điểm nhà thờ Thiên Chúa giáo Hội An hiện nay. Hơn 20 năm sau, tức năm 1935, linh mục Pierre Gallioz đã thay thế ngôi nhà nguyện này bằng ngôi nhà thờ kiên cố theo kiến trúc Gothique. Năm 1965, ngôi nhà thờ này bị phá hủy để thay vào đó ngôi nhà thờ mới với kiểu dáng như hiện nay.
Ngôi nhà thờ hiện nay nằm trong khuôn viên khá rộng, xung quanh có tường rào xây bằng gạch. Trước lối vào nhà thờ là cổng tam quan cách điệu hình mái nhà, trên đỉnh cổng có cây Thánh giá. Phía sau cổng là khoảng sân rộng, bên trái là hang đá lớn nằm bên dưới cây cổ thụ, bên phải là đồi cỏ giả sơn và khu mộ các giáo sĩ phương tây. Nhà thờ được xây dựng theo kiến trúc tân Gothique kết hợp với kiến trúc nhà ở truyền thống của Hội An. Nội thất nhà thờ chia thành ba không gian chính với chức năng riêng gồm: khu vực dành cho cộng đoàn tham dự thánh lễ, khu cung thánh dành cho linh mục quản xứ cử hành thánh lễ và phòng áo. Khu cộng đoàn tham dự thánh lễ có bốn dãy ghế, trên tường treo các bức phù điêu mô tả hành trình khổ nạn của Chúa Giêsu. Khu cung thánh được thiết kế cao hơn khu xung quanh, chính giữa là bàn thờ dâng thánh lễ đặt trên nền cao với ba bậc cấp tượng trương cho 3 đức “Tin – Cậy – Mến” để đến với Chúa. Sát tường phía sau cung thánh là thánh giá có tượng Chúa Cứu Thế. Đầu cây thánh giá có bảng nhỏ đề chữ “INRI” nghĩa là “Giêsu ở nazareth, vua dân Do Thái”. Phía chân cây thánh giá là Nhà Tạm – nơi để Mình Thánh Chúa. Phòng áo nằm ở phía sau cung thánh, có lối dẫn vào cung thánh. Đó là nơi cất giữ y phục hành lễ của linh mục và trang phục của các lễ sinh giúp lễ, đồng thời là nơi chuẩn bị lễ vật. Toàn bộ nhà thờ có lắp hệ thống gương màu để không gian bên trong thiêng liêng và thanh thoát.
Theo nhiều tư liệu lịch sử, nhà thờ Thiên Chúa giáo ở Hội An từng là điểm đến, nơi cư trú, truyền giáo của các giáo sĩ Dòng Tên, Hội Thừa Sai Paris ở Hội An nói riêng và Đàng Trong nói chung. Cuối năm 1615, sau gần một năm đến giảng đạo tại Hội An và Đàng Trong, giáo sĩ Bozomi và Carvalho đã rửa tội cho 300 người. Năm 1617, giáo sĩ Francesco Di Pina đến cư trú ở nhà thờ Hội An để giảng đạo tại Hội An – Thanh Chiêm cho đến khi qua đời. Ông là vị giáo sĩ đầu tiên giảng đạo bằng tiếng Việt. Năm 1618, một phái đoàn gồm giáo sĩ Pedro Marquez làm tuyên úy và Cristoforo Borri làm phụ tá đến Hội An, lưu trú tại nhà thờ Hội An một thời gian và đi truyền giáo khắp Đàng Trong. Cristoforo Borri là người tây phương đầu tiên viết sách mô tả xứ Đàng Trong. Năm 1624, giáo sĩ Alexandre de Rhodes đến Đàng Trong, ở tại nhà thờ Hội An. Sau này, trong những lần đến Đàng Trong, trong thời gian cấm đạo, ông đều ở tại nhà thờ Hội An. Ông là người sáng lập ra Giáo đoàn Đàng Ngoài. Từ tháng 7 đến tháng 12 năm 1640, ông đã dùng các thầy giảng rửa tội cho 1305 người theo đạo ở Hội An. Ông là người đã nghiên cứu để hoàn thiện chữ quốc ngữ và in sách bằng chữ quốc ngữ. Ngoài các giáo sĩ Dòng Tên nói trên còn có các giáo sĩ Hội Thừa Sai Paris như Lambret la Motte (1659-1679), Luy Laneun (1680-1682), Culielm Mahot (1682-1684), Francisco Perez(1684-1728), Carola Marino Lable (1697-1723), Alexandro de Alexandris (1726-1738), Juan Valere Rist (1735-1737), trong đó L.Motte là người đã triệu tập các thầy giảng cùng các thủ lãnh giáo khu ở Đàng Trong để nghiên cứu tình hình và tạo hòa khí giữa các giáo sĩ Dòng Tên và các giáo sĩ Hội Thừa Sai Paris.
Để có điều kiện thuận lợi trong việc truyền giáo, vào năm 1676 các giáo sĩ đã dâng cho chúa Hiền Nguyễn Phúc Tần một số lễ vật gồm: hai cây vải hồng mịn, một hộp bạc chạm chổ lớn và 4 hộp nhỏ, hai gương soi của Venise bọc da lừa, một đồng hồ có chuông điểm giờ, 2 gram giấy mạ vàng, một kính viễn vọng, một kính hiển vi lớn và một kính hiển vi nhỏ, hai kính lấy lửa tạo được sức nóng chảy bạc dưới ánh mặt trời, một bật lửa hình khẩu súng nhỏ bằng bạc. Tháng 1 năm 1642, Alexandre de Rhodes đến Hội An cũng đã mang theo một số đồng hồ để tặng chúa Thượng Nguyễn Phúc Lan.
Nhà thờ Thiên Chúa giáo ở Hội An là nơi giao lưu văn hóa Đông – Tây và cũng là nơi các giáo sĩ học tiếng Việt và phát minh chữ quốc ngữ để soạn bài giảng và in sách bằng chữ quốc ngữ. Để công việc truyền giáo ở Đàng Trong có kết quả, ngoài việc sử dụng các thầy giảng người Nhật, các giáo sĩ phương Tây ở Hội An đã nghiên cứu tiếng Việt và hệ thống hóa cách ghi âm tiếng Việt bằng mẫu tự Latinh. Với sự trợ giúp của các thầy giảng người Việt và một số giáo dân cũng như vận dụng kinh nghiệm Latinh hóa âm tiếng Hoa và tiếng Nhật trước đây, các giáo sĩ đã phát minh chữ quốc ngữ. Người đi tiên phong trong việc nghiên cứu và Latinh hóa tiếng Việt là giáo sĩ Francesco Di Pina. Ông sống ở Hội An từ năm 1617 – 1625, là người mà Alexandre de Rhodes đã nhận xét khi đến Hội An vào năm 1624: “Cha Francesco Di Pina thì khác: ông nói tiếng Việt khá tốt và tôi nhận thấy những bài thuyết giáo của ông có ích hơn bài của các cha khác”. Cha Pina đã soạn cuốn Sách học chữ quốc ngữ, nghiên cứu ngữ âm và ngữ pháp tiếng Việt. Năm 1624, Alexandre de Rhodes đến Hội An học tiếng Việt với cha Pina, các thầy giảng và một em bé người Việt. Sau ba tuần, ông đã nói được tiếng Việt, sau 6 tháng đã thông thạo tiếng Việt. Từ những nghiên cứu khi còn ở Hội An cũng như thừa hưởng kết quả nghiên cứu của Francesco Di Pina và dựa vào hai cuốn từ điển Việt – Bồ của Gasparo d’Amiral, từ điển Bồ - Việt của Antonio Barbosa, Alexandre de Rhodes đã soạn và in hai cuốn sách viết bằng chữ quốc ngữ là các Phép giảng 8 ngày (1651) và từ điển Việt – Bồ - La (Dictionarium Annamiticum Lusitanum et Latinum – 1651), đánh dấu sự ra đời của chữ quốc ngữ *
……………………….
(*) Trung tâm Quản lý Bảo tồn Di tích Hội An
Tư liệu tham khảo
1. Nguyễn Phước Tường, Cảng thị Hội An – cái nôi ra đời của chữ quốc ngữ, (2001), Huế Xưa & Nay, số 46 (2001).
2. Nguyễn Văn Xuân, Niên biểu Hội An từ giữa thế kỷ XV đến cuối thế kỷ XVIII, Hội thảo quốc gia về Đô thị cổ Hội An năm 1985.
3. Trần Ánh, Những thăng trầm của Kitô giáo tại thương cảng Hội An thời trung đại, tập san Văn hóa Hội An – Xuân Đinh Hợi (2007), trang 48-51.
4. Nguyễn Chí Trung, Biên niên Cù Lao Chàm, Kỷ yếu Cù Lao Chàm: Vị thế, tiềm năng và triển vọng (2007), Trung tâm QLBT Di tích Hội An xuất bản.
5. Cổ Học Tùng Thư, Quảng nam qua các thời đại, quyển thượng.
6. Nguyễn Văn Hoàng, Hội An, một trung tâm giao tiếp văn hóa thế giới của Việt Nam ở thế kỷ XVII, Kỷ yếu hội thảo quốc tế về Đô thị cổ Hội An (1990), Nxb KHXH, Hà Nội, 1991.
7. Phạm Đình Khiêm, Người chứng thứ nhất – Thiên anh hùng ca vị tử đạo tiên khởi Việt Nam, tái bản lần 2 (2000).
Theo KIẾN THỨC NGÀY NAY số 680
Trở về trang mục lục Câu Chuyện Truyền Giáo