MỘT NGÀY TRONG XỨ ĐỒNG THÁP
Nghe câu trả lời của tôi khi hỏi chúng tôi muốn ra ngã ba Trung Lương đón xe đi đâu, anh tài xế taxi nói:
- “Đồng Tháp. Xứ đó cá đồng nhiều, ngon lắm.”
Vậy mà chúng tôi suýt mất cái dịp được ăn cá ngon ở xứ cá. Hôm qua khi liên lạc được với cha Tiếng, cha chánh xứ An Long, Tam Nông, Đồng Tháp, cha đã nói là ngày hôm sau cha bận việc. Mà chúng tôi thì không có thì giờ nhiều để ở lâu. Bởi vậy cả buổi tối chúng tôi đã tranh thủ ngồi nói chuyện với cha, nghĩ là sáng đến khi cha đi công việc thì mình cũng lên đường sang Vĩnh Long, chặng cuối trong chuyến đi này, trước khi trở lại Sài Gòn.
Buổi sáng tôi thức dậy sớm từ 3 giờ sáng chui ra khỏi màn định viết cái bài thăm xứ Đồng Tháp nhưng muỗi cắn quá chịu không thấu. (Bài đó tôi gửi hôm qua rồi.) Cuối cùng phải kê cái ghế đẩu nhựa và chuyền cái máy vi tính vào trong màn mới làm xong chuyện đó mà không phải tiếp máu cho lũ muỗi đói; nhưng chuyện gì đã qua thì không đổi được. Giờ đây ngồi viết bài này tôi liên tục chà hai bàn chân vào nhau. Mấy con muỗi ác độc, đã nhằm chỗ da non bên dưới mắt cá mà tẩn. May mà năm nay những chỗ muỗi đốt không sưng mọng lên như năm ngoái. Có lẽ tôi đã sắp “quen” với muỗi như bác Ba gái đã có lần nói: - “Muỗi đốt riết rồi quen, mình có thấy gì đâu.” Quen hay không quen, tôi cũng không muốn đem thân mình ra làm mồi cho muỗi.
Bài đã viết xong và gửi đi, câu chuyện xứ Đồng Tháp tưởng như vậy là hoàn tất rồi. Nhưng suốt buổi tối hôm trước trao đổi với cha Tiếng, những điều chúng tôi nói về những công việc mình làm, những nơi đã đi qua, những hình ảnh chúng tôi đã ghi lại khi đi qua nhiều xứ khác đã làm cha suy nghĩ lại và thay đổi chương trình để cho tôi và Dzung có cái cơ hội được gần gũi với Đồng Tháp hơn. Cha đã tổ chức cho chúng tôi vào vùng sâu vùng xa của cái xứ vốn tự nó đã sâu thẳm và xa lạ với người ở thành thị, chưa nói đến những người từ ngoài nước như chúng tôi. Hai đứa tôi rất cám ơn cha đã cho chúng tôi cơ hội ấy, nhất là được thưởng thức món cá lóc nướng trui mà tôi đã nhiều lần được nghe nói đến nhưng chưa bao giờ được thưởng thức. Cả ngày hôm đó, tôi ước mình còn rộng rãi thì giờ để có thể ở lại Đồng Tháp thêm vài ngày nữa. Rong ruổi khắp nơi, nói chuyện với những người dân quê chất phác, chăm chỉ, và học biết thêm vê lối sống của họ, trongnhững căn nhà sàn có khi chỉ bằng cái chuồng gà, không bàn, không ghế, chỉ có cái sàn bóng lưỡng mài mòn bằng những bàn chân, những cái mông, cái lưng người tháng này qua năm nọ.
ĐƯỜNG VÀO CẢ NỔ̉
Nếu tôi biết là trưa nay sẽ được ăn món cá lóc nướng trui, tôi đã không cố ăn bát phở to kềnh mà cha Tiếng đã mời. Chúng tôi không có thói quen ăn sáng, nhưng vì quên nói với cha, và vì người ta đã mua, đã đặt trên bàn. Không ăn thì cũng không phải, mà cũng uổng bởi vậy nên tôi cố nuốt cái tô phở An Long giá 6,000 VND (30 cent). Dzung thấy cái bát phở đầy ắp thì lại sớt bớt qua cho tôi. Thế là tôi lên đường vào Cả Nổ với cái bụng óc ách đầy phở.
Từ ngã ba An Long, muốn vào Cả Nổ phải đi tiếp QL30 về phía Hồng Ngự, Qua 2 con kinh, kinh thứ nhất ngay thị trấn An Long, kinh thứ hai cách đó chừng 3 cây số. Tới cây cầu bắc ngang con kinh thứ ba, cách Hồng Ngự chừng 5, 6 cây số, thì đừng lên cầu mà quẹo vào con đường dọc theo kinh ngay phía bên phải. Đi thẳng hoài, qua mấy cây cầu, qua cái chỗ có mấy con kinh gặp nhau, đi tiếp một đoạn dài nữa thì tới chỗ dân cư thật thưa thớt, nhà nào nhà nấy cách xa nhau cả trăm thước thì tới xóm Cả Nổ, nơi mấy năm trước cha Tiếng có đắp một cái nền cao 3, 4 thước ngay giữa ruộng xanh để làm một cái nhà thờ giản dị, mộc mạc làm nơi thờ phượng cho 700 người dân ở xứ này. Nhà thờ nằm bên bờ con kinh, 400 người sống bên này, 300 người bên kia, nhưng ai cũng có thuyền, một điều tối cần thiết vì vào mùa nước tất cả đồng ruộng đều chìm dưới vài thước nước.
CHÀI CÁ ĐỒNG:
Gọi là cá đồng nhưng thật ra cá được bắt từ trong ao. Có điều đây là cá hoang chứ không phải cá nuôi. Đào ao rồi, không cần mua cá giống, cá con ... chỉ cần đợi đến mùa nước khi lũ tràn về biến ruộng đồng thành biển nước mênh mông thì cá sông, cá đồng có thể tự do bơi đi khắp nơi. Khi nước rút chúng tìm những vùng trũng để nương náu. Cá to, cá bé cũng dạt vào đó cả. Cái ao trống khi xưa bây giờ biến thành một trại tỵ nạn cho cá sông, cá đồng đợi người đến vớt. Cá lớn ăn cá bé càng lớn hơn. Ao nhiều cá lớn, thu hoạch lúc hãy còn ít cá con cho chúng ăn thì đạt. Năm nay không đạt lắm, cá tuy nhiều nhưng không to bằng năm ngoái như lời cha Tiếng:
- “Hai con cá lóc to nhất năm ngoái nặng 9 ký lô, cộng trừ nửa ký là nhiều. Ai trông thấy mà chẳng ham.”
Tuy vậy, nhìn hết những mẻ chài này sang mẻ khác đầy ắp cá lớn bé trườn, nhảy lưng tưng trên mặt lưới, những giỏ lớn cá đầy ắp, cái lu đầy cá lóc mỗi lân mở nắp đổ thêm vào lại có mấy con trườn ra ngoài, tôi thấy đã quá đạt rồi.

Mẻ thứ hai, cá không to, không nhiều bằng lần đầu
nhưng cũng bắt được cả chuc ký cá lớn, nhỏ.
Chài ao này rồi sang ao khác. Xong xuôi lại vòng lại chài tiếp cái ao chài lúc đầu. Cá có ít hơn trước đôi chút nhưng vẫn còn nhiều. Chài đi, chài lại nhiều lần cho đến khi cá thâu hoạch được không bõ công chài thì họ mới thôi.
.jpg)
Nhìn những con cá lóc to kềnh, những con cá trê vàng ngậy, những con cá rô tròn trịa nhảy lung tung trong rổ, không ai mà không thấy phấn khởi.
Cánh đàn ông lo chuyện kéo chài, bưng cá. Cánh đàn bà lo chuyện lựa, chuyện rửa. Từng giỏ cá từ dưới ao đưa lên được đổ đổng trên cái tấm bạt ny lông nơi các bà, các cô vừa nhặt cá vừa rôm rả trò chuyện. Những con cá lóc được cho vào chum, cá trê được đổ vào góc ao nơi họ đã quây lưới sẵn. Những con cá nhỏ như cá thác lác, cá chốt, cá rô, cá sặc, cá lau kính thì được ném vào thau, vào thùng nằm đầy chung quanh. Những con nhỏ quá được bỏ chung vào một cái chậu lớn để bán chung cho vựa người ta xay làm cá “mồi”, tức là làm đồ ăn cho cá nuôi.
Từ sáng tới trưa, có 3 cái ao họ chài đi chài lại được không biết bao nhiêu là cá. Có người nói được vài trăm cân, kẻ khác sửa “hai trăm ký là nhiều. Năm nay không đạt bằng năm ngoái ...”
MỘT AO ƯỚC CHƯA THÀNH
Tối hôm qua, cha Tiếng chia sẻ với chúng tôi một nguyện vọng. Đó là việc xây được một cây cầu bắt ngang con kinh gần phía trước nhà thờ, nối hai bờ của cái xóm Cả Nổi. Ngày trước khi dân mới về đây tạm cư, hai bờ đều thưa thớt như nhau, nhưng rồi khi chợ và trường học được xây ở bên này kinh thì phía bên kia như là bị cô lập. Nhà nước xây được một cây cầu khá gần trường nhưng muốn tới nhà thờ thì phải đi vòng rất xa, đường xá cũng khó đi hơn, nhất là khi mưa khi gió. Vùng này dân cư còn khá thưa nên việc xin nhà nước xây thêm một chiếc cầu có lẽ cũng còn phải chờ đợi lâu lắm mới thực hiện được.
.jpg)
“Mùa nước cạn kinh ít nước, trẻ con bơi thuyền sang cho gần. Mùa lũ nước ngập mênh mông, người lớn không nói làm gì, trẻ em đi học bơi thuyền một mình qua vùng nước sâu rất nguy hiểm. Nếu có cây cầu giúp chúng qua sông an toàn, tụ tập ở nhà thờ, rồi bơi thuyền dọc theo đường lộ phía bên này nhà cửa san sát, nơi nước ngập chỉ tới đầu gối, tới đùi thì đỡ sợ có hiểm họa”.
Cha Tiếng nói vùng này dân ở ngày một đông. Những người đầu tiên về đây là người Việt bên Miên chạy loạn về đây định cư. Lúc đó đất còn trống trải chưa có nhà cửa gì. Bây giờ tuy cũng trù phú, sầm uất hơn nhưng vì cơn lụt hàng năm cũng chẳng mấy ai lạ dạt vào. Tuy vậy, bà con, bạn bè giới thiệu nhau. Con cái lớn lập gia đình ra ở riêng. Cứ thế mà hai bờ kinh nhà cửa mỗi năm mỗi đông.
Bên này kinh, nhà nước có dự án mở con đường này rộng ra và cao ráo hơn, như con đường 844 từ ngã ba An Long vào Tam Nông. Không biết tới chừng nào điều đó mới xẩy ra. Nhưng chuyện gì đến sẽ đến. Con đường đó một khi hoàn tất thì khoảng cách từ An Long, Hồng Ngự về Sài Gòn sẽ chỉ còn một nửa. Những nhà cất hai bên đường này sẽ bị giải tỏa nhưng người ta sẽ dời vào trong, cất nhà khác sang trang và kiên cố hơn, như những nhà ngoài mặt đường nhựa bây giờ.
.jpg)
Chúng tôi nghe chuyện ngập mùa nước lũ, chuyện xây cầu thì cũng thấy hào hứng. Xong nghĩ tới chuyện xây dựng cơ sở thì lại nghĩ đó là chuyện nhà nước ngoài tầm tay của những người làm chuyện bác ái, từ thiện như mình. Nhưng rồi nghe cha nói xây một chiếc cầu gỗ hai chiếc xe máy đi lọt, han sử dụng chừng 10 năm mới phải tu bổ lại chỉ hết khoảng 3,000 USD thì nghĩ có thể làm được nếu tìm thêm được những mạnh thường quân đầy lòng hảo tâm. Cha Tiếng nói nếu chúng tôi giúp quyên góp được 40 triệu (đồng VN, khoảng 2000 USD) thì cha sẽ vận động dân chúng hai bên bờ đóng góp phần còn lại.
CÁ LÓC NƯỚNG TRUI
Cái món cá lóc nướng trui này tôi nghe đã từ lâu nhưng chưa bao giờ được thưởng thức. Hôm nay tình cờ được vào thăm xứ Đồng Tháp, rồi may mắn được thấy, được ăn món cá lóc nướng, thì sung sướng còn gì bằng.
Lúc mới vào, tôi có ngó thấy đống thanh tre to bằng ngón tay,hai đầu gọt nhọn, dài chừng 50, 60 phân nằm cạnh đống cá nhưng nào biết đó là gì. Xem họ kéo, bắt cá không chán, tôi vẫn còn đang loay hoay chụp hình, quay phim thì nghe Dzung gọi lên mà xem họ trui cá. Chuyện này quá hấp dẫn, từ phía trũng gần bờ ao tôi bước vội lên phía bờ đất quanh nhà thờ, loạng choạng suýt nữa lọt xuống sình. Chỉ về phía cái đống rơm cao 5, 7 tấc vừa được châm lửa đỏ rực, khó, tro từng làn bay lên trời, Dzung nói: “Thấy đuôi cá còn lòi trên rơm không.”
.jpg)
Tôi nào có thấy gì nên lắc đầu, nhưng cũng quay, cũng chụp. Hy vọng sẽ được thấy rõ hơn khi đã về nhà nạp hình vào máy vi tính.
Rơm cháy bốc rất nhanh, đứng gần phút chốc nóng rực phải lùi lại vài ba bước. Sợ cá chưa chín mấy người đứng xem đốc thúc ném thêm rơm vào. Mùi cá nướng bốc tỏa khắp không gian thơm phức khiến ai đứng chung quanh đấy cũng phải ngỏ lời khen. Chưa đầy năm phút rơm đã cháy hết chỉ còn thấy những cái que tre đuôi cá cháy đen nhô lên trên đống tro tàn như miệng hỏa diệm sơn còn đang phun khói.
Vấn đề được nêu ra lúc này là cá đã chín chưa. Người do dự thì cho rằng cứ chất thêm rơm vào đốt một đợt nữa cho chắc ăn. Bao rơm được đem ra, nhưng anh thanh niên trui cá nãy giờ chưa kịp đút tay vào bao thì một giọng nói đầy kinh nghiệm vang lên:
- “Bóp vào con cá, nếu thịt nó mềm là được.”
Khổ nỗi cái đống tro còn nóng, anh nọ loay hoay mãi mới xác định là cá chín rồi, không cần phải nhọc công với chúng nữa.
.jpg)
.jpg)
Lúc lắc cái thanh tre, môt anh thanh niên rút sâu cá đầu tiên ra rồi tay cầm que cá, tay cầm ít cọng rơm, anh quệt cho rơi hết bụi tro trên thân cá. Tôi xích lại gần xem cho rõ, mùi cá nướng dập vào mũi thơm phức. Rút con cá khỏi thanh tre, anh đặt nó vào chiếc đĩa rồi vói tay qua phía đống tro lấy một con khác. Đống tro thì nóng, thanh tre thì ghim chặt dưới đất. anh ta lay hoay mãi mới kéo nó lên được. Cứ như thế, chẳng mấy chốc tất cả cá nướng đã nằm chễm chệ trên dĩa.
.jpg)
Cá được bầy ra bàn cùng rau sống, đọt súng, rau thơm, dưa chuột, cà chua ... Trong cái hiên nhìn ra cái ao còn đục màu bùn qua nhiều lần chài, vét, một bữa ăn đầy thi vị bắt đầu.
NƯỚC LÀ NGUỒN SỐNG:
Người ta thường nói “nước là nguồn của sự sống” nhưng câu nói đó không đâu thể hiện rõ ràng như ở Đồng Tháp này. Ở đây, nước như là giòng máu đem phù sa (dinh dưỡng) đến bồi bổ cho đất, và giúp thải đi những chất phèn (độc hại) để cây lúa có thể phát triển tươi tốt trong những thửa ruộng mênh mông bát ngát. Và nếu nước là máu thì những con kinh chính là những huyết quản phân phát sự sống ấy khắp nơi. Ở Đồng Tháp, đi đâu cũng thấy kinh, rạch chằng chịt như mạng nhện. Một khi đã khám phá ra rằng dọc theo hai bờ kinh bao giờ người ta cũng trồng những hàng cây Bạch Đàn để giữ đất thì ta có thể biết sự hiện hữu của những con kinh qua những hàng cây nằm ở cuối chân trời đằng sau những cánh đồng lúa xanh bát ngát.
.jpg)
Người ta đào kinh để rửa đất, để tưới ruộng, và để dùng vào phương tiện giao thông. Cách đây không quá lâu, khi chưa có nhiều xe cộ, hệ thống những con kinh này đóng một vai trò không thua một hệ thống đường xá, giao thông mà ngày nay người ta tưởng như là không có gì bằng. Nhưng thật ra, cho dù đường xá ngày càng nhiều, chúng cũng chưa thay thế được những con kinh, những dòng sông, con lạch trong nhiệm vụ chuyên chở mà thật ra lắm khi còn phải nhờ vào chúng để phát triển. Ngày ngày, nhìn những xà lan chở đầy ắp cát, gạch, xi măng đi khắp nơi. Nhìn quanh những con đường đang được mở rộng, những cây cầu đang xây, nơi nào chẳng thấy những máy bơm cát làm việc không nghỉ. Nhưng ở Đồng Tháp, thuyền và kinh rạch còn có một nhiệm vụ khác mang một sắc thái đặc biệt không gì sánh bằng. Đó là những chiếc thuyền bán vật dụng hàng ngày, nhu yếu phẩm, và cả thực phẩm đến với những căn nhà thuân tiện ngay bên bờ nước, nhưng cách xa đường lộ, phố phường. Chỉ cần đứng bên bờ kinh một chập là người ta sẽ nghe được những giọng rao qua máy phóng thanh, những câu cải lương rền rĩ báo trước sự hiện diện của một chiếc thương thuyền đang tiến gần.
- “Vào mùa lúa, những chiếc thuyền này làm ăn khấm khá lắm. Nhất là những thuyền bán đồ ăn. Như một tiệm ăn lưu động, họ đem bữa ăn đến cho đám phu đang làm lụng xa nhà, xa tất cả mọi phương tiện...”
Thuyền nhờ dòng nước mà giúp người. Người nhờ dòng nước mà sinh sống. Dòng nước đem dinh dưỡng tới cho đất, tẩy những chất thải đi, năm này qua năm khác không bao giờ ngừng.
.jpg)
NHÀ VÀ LŨ:
“Nhập gia tùy tục, nhập sông tùy khúc” còn nhập vào miền đất hàng năm lũ về ngập lụt thì theo người ta mà cất nhà sàn.
Hồi nhỏ tôi ở Sài Gòn thì cũng biết nhà sàn. Không cần đi đâu xa, chỉ cần ra bờ sông nhìn qua Thủ Thiêm là thấy rồi. Khi lơn lớn vào học trung học có nhiều bạn bè, có đứa dẫn về nhà nó chơi tôi có dịp thấy nhà sàn từ phía trong nhìn ra. Năm 1999 có dịp đi từ Châu Đốc về Hà Tiên dọc theo con kinh vĩnh tế tôi thấy không biết bao nhiêu là nhà sàn, những căn nhà không có cửa, thường chỉ treo một miếng bạt ban ngày thì cuộn lên, còn ban đêm thì thả xuống che con mắt tò mò của thiên hạ. Trong những căn nhà trống lốc đó thường chẳng có gì ngoài một hai chiếc chõng tre, ngoài việc làm giường để ngủ còn làm ghế để ngồi, làm bàn để ăn ... Trên con đường vào Cả Nổ, lần đầu tiên trong đời, tôi thấy những căn nhà sàn nhìn vào trống lốc, không giường chõng, bàn, ghế quần áo máng đầy trên tường. Tất cả mọi sinh hoạt trong nhà đều trên cái sàn gỗ nhẵn bóng vì được dùng thường xuyên.
Mấy năm gần đây Dzung và tôi đi vào rất nhiều các vùng nghèo khổ trong nước. Vùng đồng bằng, vùng đồi núi, vùng sâu, vùng xa ... chúng tôi đi đủ cả. Mỗi năm vài chục địa phương, những làng mạc khó khăn, khổ sở. Hễ ai nói vùng nào đó nghèo nhất, là chúng tôi cố gắng tìm đến. Tôi đã thấy nhiều căn nhà lụp xụp, bé nhỏ, xiêu vẹo hơn, nhưng tình thực thì chưa thấy những căn nhà không đồ đạc như ở đây. Ở Hà Tĩnh, có lần một cụ bà khoảng 80 tuổi chỉ cho tôi cái ổ rơm cụ nằm. Đành rằng nó trên đất, nhưng cũng không phải là nằm trên sàn. Vả lại, trong nhà cụ cũng có bàn, có ghế mặc dù trông nó chẳng ra gì. Bởi vậy tôi lấy làm lạ khi thấy mấy cái nhà trống lốc ở đây.
(Click vào ảnh để xem bản phóng lớn)
Thật tình mà nói, nếu không có đường dây điện, ăng-ten TV, quần áo, lu nước, thau chậu họ để rải rác quanh nhà thì tôi không quyết chắc đó là nhà để ở mà là cái lán họ cất để ở tạm cho gần ruộng mà thôi. Nhưng đó không phải là những căn nhà ở giữa ruộng như tôi đã nhìn thấy một vài căn từ đằng xa, mà là những căn nhà cất dọc mé đường, bên bờ những con kinh mà tôi đi qua trên con đường vào Cả Nổ. Tôi không nghĩ là tất cả những người sống trong những túp lều siêu vẹo này có ý định sẽ tiếp tục ở đây trong mùa nước lũ vì nhiều căn có vẻ quá nhỏ, quá thấp so với những nhà khác ở gần bên. Nhưng mùa lũ chỉ có 3, 4 tháng là cùng. Còn 9 tháng mùa khô, hai vụ mùa lúa, họ vẫn ở đây thì cho dù có tạm bợ đến đâu, không lẽ mình không gọi nó là nhà?
Mải chụp những căn nhà tồi tàn nhất, xiêu vẹo nhất, tôi quên chụp một vài căn kiên cố và hoành tráng nhất để cho bạn biết người có tiền của thì người ta đối phó với lũ lụt như thế nào. Thôi thì bạn chịu khó nghe tôi miêu tả vậy. Căn nhà nhìn xa như nhà lầu 2 tầng, chỉ khác là có cầu thang từ bên ngoài đi thẳng lên tầng trên, và tầng dưới có vẻ hơi thâm thấp và trống lỗng, không tường, không nền, không đồ đạc gì cả hoặc thỉnh thoảng chứa một ít vật dụng tạm thời cần tránh nắng, tránh mưa.
Đi qua mỗi căn nhà trông như cái lán tạm trú như vầy, nhất là lúc thấy có bóng người ở trong, tôi ước mình có thời giờ nấn ná hỏi han họ về nếp sống hẳn là cơ cực ở vùng nước ngập hàng năm này. Lần sau vào đây, thế nào tôi cũng phải chuẩn bị trước để có thể tìm hiểu cụ thể và xác thực hơn. Lần này cưỡi ngựa xem hoa, nhìn sao nói vậy, tôi có cố gắng lắm cũng không khỏi có điều sơ sót. Mà có điều, sơ sót bên nào? Gọi lán là nhà? hay là chưa bộc lộ được cái khổ của những người sống “tạm bợ” trong những căn lều đó? “Tạm bợ” cũng là tương đối thôi, theo nhiều tôn giáo, đời sống của tất cả chúng ta trên cõi đời này đều là “tạm bợ”.
Tôi thật tình muốn giúp những người đang “tạm trú” trong những túp nhà “tạm bợ” như vầy, nhưng chưa nghĩ được là bằng cách nào. Mà một mình tôi thì giúp được bao nhiêu, thấm thía vào đâu nếu không có các bạn trợ tay.
.jpg)
MÙA NƯỚC LŨ:
Tôi có thói quen viết thêm chữ lũ nhưng ở Đồng Tháp người ta chỉ gọi nó là ‘mùa nước’. Làm gì có nước lũ chảy xiết, chỉ có nước dâng ngập cả con sông rồi tràn qua bờ, rồi dâng mãi, dâng mãi cho tới khi không còn biết đâu là sông, đâu là bờ, đâu là ruộng đồng nữa.
- “Anh phải về đây vào tháng 7, 8, 9, hay 10 thì mới thấy được cảnh ‘mùa nước’.”
Tuy biết thế nào cũng phải làm một chuyến đi như vậy nhưng tôi vẫn không hết thắc mắc: Nước dâng ngập hết rồi người ta đi đâu? ở đâu? làm gì? lấy gì mà ăn? lấy nước sạch đâu mà uống? Giá có thì giờ tôi sẽ tìm giải đáp hết cho những tò mò đang dâng tràn trong đầu, nhưng chắc phải đợi đến ngày về Đồng Tháp trong ‘mùa nước’ có lẽ tôi mới không còn thắc mắc. Bây giờ thì tôi chỉ có thể tưởng tượng. Nước dâng ngập mênh mông, nước tràn qua bờ kinh, mấp mé dưới cái sàn nhà. Mình ngồi co ro trong nhà nhìn những cánh đồng nay là biển nước, những dòng kinh nay chỉ còn hai hàng cây xanh lá đánh dấu. Nhìn xem mà không buồn bởi vì biết đây là chuyện thường tình, chuyện dĩ nhiên phải xẩy ra. Có lo lắng ư? Lo lắng thì ích gì. Chuyện gì đến sẽ đến. Ưu tư lắm thì cầu cho trời bớt mưa trên nguồn để nước đừng vào nhà, đừng nổi gió để sóng đánh vỡ vách, để những con gà, con vịt, con heo đang cùng mình chung chạ giữa 4 cái vách, và cái sàn ngăn mình với dòng nước đục bên dưới ...
Nghĩ mà thê thảm quá ... Tôi hy vọng ngày nào tôi được về Đồng Tháp giữa mùa nước lũ, tôi sẽ thấy người ta an cư hơn tôi nghĩ nhiều. Năm nào cũng sống với lũ, không lẽ họ chưa nghĩ ra cách nào đối phó?
Nam (& Dzung)
Nam-Dzung mission 2009
Viết ngày 20 tháng 1, năm 2010
TB: Rời Cả Nổ sau 12 giờ trưa, chúng tôi đợi ở An Long từ 1 giờ đến gần 2 giờ chiều thì có xe máy tới đón ra QL30. Từ An Long ra ngã ba An Thái Trung đường dài khoảng 100 km. Xe ra tới đó lúc 4 giờ hơn. Ngồi đợi mưa ngơi vô ích, chúng tôi tính đón xe đò sang Vĩnh Long mà không xong. Cuối cùng đi bằng xe ôm, chở ba, dưới cơn mưa tầm tã. Tới nhà bác Hai My thì trời đã tối. Quần áo ướt hết phải giặt rồi phơi. Lu bu coi lại mấy đơn học bổng với bác Hai đến khuya, hai đứa định sáng sớm đón xe về Sài Gòn mà trời không cho. Sáng hôm sau mưa như trút suốt buổi sáng. Trưa ngơi chút mới ra đứng trước cửa đón xe. Đợi chưa đến 1 phút, chiếc xe đò Cà Mau – Sài Gòn trờ tới. Chiếc xe vắng thì có chỗ cho mình tha hồ duỗi chân cẳng nhưng nó ngừng, nghỉ lung tung để đón khách. Nhiều người trên xe la um. Mấy người bỏ xuống xe đáp xe khác. Tôi và Dzung chịu trận chờ. Rốt cuộc cũng về đến Sài Gòn đúng giờ cao điểm...
Chương trình của chúng tôi trong những ngày sắp tới như sau:
- Chuyện mổ mắt ở Thanh Hóa chắc không thành. Mấy hôm trước nghe nói sẽ mổ ở Hà Trung vào các ngày 30, 31 thì tôi và Dzung đã quyết định tôi ở Bến Tre xem mổ mắt đến trưa 28 thì lên đường về Sài Gòn đón xe ra Thanh Hóa lo chuyện ở Hà Trung. Dzung ở lại miền nam lo hoàn thành công việc đã sắp đặt. Hôm nay trên đường từ Vĩnh Long về gọi cho BS Thủy thì biết huyện Hà Trung không muốn làm. May ra thì có thể làm được ở Hoàng Hóa. Tôi cũng chưa biết Hoàng Hóa ở đâu trên bản đồ nhưng đó không phải là vấn đề. Vấn đề là chắc trước tết thì không đủ thì giờ, mà sau tết thì họ cũng muốn muộn muộn một chút. Tôi chỉ ở lại VN đến 13 tháng giêng âm lịch (26 tháng 2, 2010) thì về Mỹ. Như vậy thì hỏng rồi. Tuy vậy, Dzung nói BS Thủy cố sắp xếp. Tôi không muốn gia hạn ở lại VN thêm 1 tháng vì tốn kém, phải tốn tiền Visa và tiền phạt đổi vé máy bay. Vả lại, tôi muốn về sớm tu bổ cái thuyền để hè lên Alaska. Dzung thì chắc hy vọng tôi đổi ý. Khó nghĩ! Nhưng giả sử ở lại thêm 1 tháng không có quỹ làm việc khác mà chỉ có 1 đợt mổ mắt đó thì 28 ngày trống đó tôi biết làm gì?
- Đợt mổ mắt ở Sài Gòn trước định mổ ngày 26 nay dời lại ngày 27. Quá cận ngày 28 mổ ở thành phố Bến Tre nhưng đành chịu vậy thôi. Làm việc với các nhóm bác sỹ khác nhau, họ có lịch trình riêng.
- Đợt mổ mắt Bến Tre ngày 28 không gì thay đổi, chỉ cái phải rời Sài Gòn vào sáng sớm. Chắc phải đi chuyến xe 4 giờ 30. Vậy phải ra khỏi nhà lúc 3 giờ 30. Làm gì có xe buýt. Phải nhớ tìm cái số điện thoại taxi không thì cũng chết giấc vì sáng làm gì ngoắc được xe ngoài đường.
- Bác Ba Đoàn đã sắp xếp phát quà tết cho người nghèo ở 5 xã quanh nhà bác. Ngày 5 tháng 2 buổi sáng phát 4 xã, mỗi xã 2 triệu nhưng phát tiền thì nhanh. Buổi chiều phát gạo và nhu yếu phẩm. Đây là xã của bác Ba. Bác quyên góp được 3 triệu rưỡi. Chúng tôi (HopeToday) cũng cho thêm 2 triệu như 4 xã kia. Hôm thứ hai bác Ba ra xã duyệt danh sách người nhận. Bác gái nói bác Ba Đoàn sẽ phải kỳ kèo thêm người nọ bớt người kia, khôn khéo lắm chứ không mấy ông xã sẽ đút người nhà vào. Ở 4 xã kia, bác Ba đã nhờ những người tin cẩn làm chuyện duyệt xét danh sách với xã. Làm việc từ thiện ở VN không dễ. Không có những người địa phương liêm chính, có tâm, có đức, có lòng như bác Ba bỏ công sức ra hợp tác thì công việc của chúng tôi sẽ khó khăn hơn rất nhiều.
| Trở về trang mục lục Phóng Sự |